NHÌN BẦU CỬ Ở MỸ ĐỂ HIỂU THÊM VỀ NGƯỜI MỸ

Trần Sĩ Chương
Tháng 9/2004    


Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đang được quốc tế đặc biệt quan tâm. Số lượng phóng viên nước ngoài tham dự đại hội đảng Dân chủ ở Boston tháng trước đạt kỷ lục, lên đến vài ngàn người. Vào đầu tháng 9, các hãng thông tấn nước ngoài cũng đã gửi hàng ngàn phóng viên theo dõi đại hội đảng Cộng hòa ở New York. Qua sự kiện đơn phương quyết định xâm chiếm Iraq, cộng với vai trò siêu cường kinh tế và quân sự của Mỹ, tổng thống Mỹ được xem như là một nhân vật cực kỳ quan trọng trên chính trường thế giới. Từng lời phát biểu của hai ứng viên Bush và Kerry đang được dư luận Mỹ mổ xẻ, phân tích để phán đoán chính sách đối ngoại của tổng thống Mỹ trong bốn năm tới sẽ như thế nào.

Nhưng nếu nhìn lại lịch sử tranh cử tổng thống Mỹ thì thấy có một yếu tố nổi bật, đó là sự bất cập thường xuyên giữa những gì ứng viên tổng thống nói và những gì ông ta làm sau khi đắc cử. Cả khi đang còn tại chức, các vị tổng thống Mỹ thường đổi chính sách một cách chóng mặt ngay trong nhiệm kỳ đầu, và nếu tái đắc cử cũng thường có những thay đổi lớn ở nhiệm kỳ hai. Nhiều chính khách nước ngoài từng than trời: “Làm kẻ thù của Mỹ dễ hơn làm bạn với Mỹ!”. Chính sách từ Tòa Bạch Ốc mới chỉ là một nửa vấn đề vì theo hệ thống dân chủ của Mỹ, còn có thêm một trung tâm quyền lực có quyền quyết định, đó là Quốc hội. Nhiều chuyện tổng thống đã hứa, đã ký nhưng Quốc hội không duyệt thì cũng thua.

Tuy nhiên một siêu cường như Mỹ phải có những giá trị cốt lõi và chính thống trong quan điểm đối ngoại. Tất cả sách lược của Mỹ đều phải nằm trong những ý thức hệ nảy sinh từ cái nhìn của người Mỹ về chính họ và về sự liên hệ giữa họ với thế giới bên ngoài. Trong dòng máu văn hóa - chính trị của người Mỹ có ba cái “gen” rất mạnh nhưng không lẫn lộn, đó là: khuynh hướng cô lập (isolationism - chỉ biết lo thân mình, chuyện ai mặc họ); khuynh hướng lý tưởng (idealism - ai cũng phải như Mỹ, phải có tự do, dân chủ, nhân quyền); và khuynh hướng thực tiễn (realism - quyền lợi quốc gia là trên hết). Mỗi hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội trong nước Mỹ có tác động riêng đối với từng khuynh hướng. Vì vậy người nước ngoài rất khó hiểu được khi nào nước Mỹ “lên cơn” gì và tại sao.

Tìm hiểu sâu hơn ba “gen” đó, ta sẽ thấy những điều thực chất.

Khuynh hướng cô lập: Đây là bản chất cơ bản của người Mỹ. Đất nước họ nằm giữa hai đại dương. Phía Bắc giáp giới với Canada, một nước có cùng văn hóa Anglo-Saxon, giàu có, chỉ có hơn 20 triệu dân, thân thiện với Mỹ. Phía Nam là Mexico - một nước nghèo, hoàn toàn lệ thuộc vào kinh tế Mỹ. Với địa lý chính trị như vậy, người Mỹ không hề bị đe dọa bởi cường quốc láng giềng nào như nhiều nước khác. Người dân Mỹ ít quan tâm đến chuyện ngoại giao quốc tế, chỉ lo làm ăn và lo chuyện của mình là chính. Ông Bush lúc đang tranh cử thường đả kích chính sách tham chiến của Tổng thống Clinton ở Somalia, Bosnia, Haiti, Iraq, Kosovo. Đến khi đắc cử, ông ta đổi ý, chủ trương Mỹ phải đi đầu trong việc phát động một cách mạng văn hóa - xã hội - chính trị ở Trung Đông, bắt đầu gây hấn với Iraq. Ông Kerry vào năm 1983 chống cuộc tấn công của Mỹ ở Grenada dưới thời Tổng thống Reagan, cho rằng đó là “một cuộc xâm lấn vô cớ với một nước nhỏ không gây chiến hay xâm hại đến quyền lợi gì của Mỹ”. Vài năm sau, ông cũng lại chống cuộc chiến ở Iraq lần thứ nhất (năm 1991 dưới thời Tổng thống Bush cha) và cho rằng đó là “một cuộc chiến vì sĩ diện chứ không vì quyền lợi chiến lược nào của Mỹ cả”. Nhưng chỉ một năm sau, ông Kerry thay đổi quan điểm, ủng hộ tất cả các cuộc tham chiến dưới thời Tổng thống Clinton.

Khuynh hướng lý tưởng: Nước Mỹ được xây dựng trên nguyên tắc tôn trọng những quyền cơ bản của công dân và lý tưởng tự do dân chủ. Họ hãnh diện và tự hào với con người của họ. Họ cho rằng nước Mỹ là một hiện tượng tuyệt vời vì con người làm chủ được số phận của mình trong những điều kiện nhân quyền lý tưởng nhất. Từ đó họ phát sinh một tâm lý chủ quan là ai cũng nên giống mình, trong một thế giới đồng nhất. Tổng thống Kennedy trong bài diễn văn nhậm chức đã phát biểu hùng hồn là nước Mỹ sẽ “chấp nhận bất cứ gánh nặng nào, bất cứ ở đâu, cho lý tưởng tự do dân chủ”. Cũng vì vậy, Kennedy đã bắt đầu tham chiến ở Việt Nam, bất chấp sự khuyên can của Tổng thống tiền nhiệm Eisenhower và các tướng lĩnh kỳ cựu thời Đệ nhị Thế chiến của Mỹ như các đại tướng MacArthur, Bradley. Và lại tương tự như trên, Tổng thống Bush đã đổi hướng 180 độ, từ cô lập sang “giải phóng các dân tộc Trung Đông thoát ách độc tài, chuyên chế”, vì chỉ có như vậy mới “giải quyết được vấn nạn khủng bố tận gốc”, trên danh nghĩa “bảo vệ quyền lợi quốc gia”.

Khuynh hướng thực tiễn: Người Mỹ có khuynh hướng cô lập từ bản chất, nhưng cũng có đôi lúc mơ mộng, khoác áo ông cha truyền đạo, can dự vào chuyện người khác, nhưng rồi thực tế quyền lực thường đưa chính sách của Mỹ trở lại khuynh hướng thực tiễn: Quyền lợi của Mỹ là trên hết; chỉ tham dự khi nào và ở nơi nào mà quyền lợi của Mỹ bị ảnh hưởng rõ ràng và đã rạch ròi lời lỗ phân minh. Sau mười năm tham chiến ở Việt Nam, Mỹ thấy rõ ràng là bị lỗ. Và khi thấy rõ một số giả thuyết về địa lý chính trị, về quyền lợi chiến lược và về cái giá phải trả không còn đúng nữa thì Mỹ quyết định rút. Tổng thống Clinton lúc đang vận động ứng cử có vẻ bài Trung Quốc, nhưng sau khi đắc cử lại hồ hởi cổ động phát triển quan hệ ngoại giao, ngoại thương và đưa Trung Quốc vào quỹ đạo thế giới, cũng chỉ vì quyền lợi kinh tế và nhu cầu địa lý chính trị và chiến lược của Mỹ trong khu vực Đông Á. Thượng nghị sĩ Kerry đang chỉ trích chính sách của Tổng thống Bush ở Iraq và tuyên bố rằng nếu ông đắc cử thì “chỉ tham chiến khi nào phải làm, chứ không phải bất cứ khi nào muốn làm”. Một cách suy nghĩ theo khuynh hướng thực tiễn!

Tổng thống Bush, nếu tái đắc cử, chắc sẽ hành xử quyền lực của ông khác với bốn năm qua, sau khi đã đụng chạm nhiều với thực tế và đã cảm nhận được cái giới hạn quyền lực của mình cũng như của nước Mỹ trong việc thay đổi chính trường thế giới. Thượng nghị sĩ Kerry, nếu đắc cử, có lẽ cũng sẽ không khác nhiều với Tổng thống Bush trong sách lược chính trị toàn cầu. Tổng thống nào, dù của đảng Cộng hòa hay Dân chủ, đều bị những áp lực chung về chính trị, kinh tế, xã hội trong nước cũng như từ bên ngoài. Họ cùng chia sẻ một dòng máu văn hóa chính trị chung của dân tộc Mỹ. Hơn nữa, tổng thống Mỹ không phải là người có thể đơn phương quyết định hướng đi đối ngoại của Mỹ. Sau lưng họ là những cơ cấu quyền lực (institutional elites) truyền thống và chính thống. Những nhóm này có những ảnh hưởng đặc thù đối với hệ thống quyền lực của Mỹ. Nhưng ở tầm vĩ mô, tất cả đều nằm trong một khung ý thức hệ bao gồm ba khuynh hướng chính như đã nêu trên. Mức độ ảnh hưởng của từng khuynh hướng tùy thuộc vào điều kiện đặc thù của từng thời điểm.

Lúc hùng mạnh, hòa bình thì khuynh hướng lý tưởng ở Mỹ dễ nổi bật. Thập niên sau Đệ nhị Thế chiến là thời hoàng kim của Mỹ. Suốt thập niên 1950, Mỹ một tay vẽ lại bản đồ thế giới tự do. Điều kiện này cho phép Tổng thống Kennedy và nước Mỹ mơ mộng ý tưởng làm “anh cả” thế giới. Sau kinh nghiệm chiến tranh Việt Nam, dân chúng Mỹ quá chán chường với cái giá họ phải trả khi tham chiến ở nước ngoài. Tổng thống Carter đắc cử năm 1977 đại diện cho khuynh hướng cô lập (và một phần lý tưởng), chủ trương co lại, ưu tiên lo chuyện trong nhà. Ông ta cắt ngân sách quốc phòng, chủ trương hòa hoãn, dùng ảnh hưởng ngoại giao để đem lại hòa bình thế giới. Vậy mà đến năm 1979, sau khi Liên Sô tiến chiếm Afghanistan, thi chính ông Carter lại trở thành diều hâu hơn ai hết. Ông ta là người giữ kỷ lục cắt và tăng ngân sách quốc phòng lớn nhất trong lịch sử các tổng thống Mỹ.

Một chính khách lão thành người Pháp đã có nhận xét: “Người Mỹ như là một người bà con giàu có, lý tưởng, tốt bụng, nhưng khá ngây ngô, có trí nhớ rất kém đối với những bài học lịch sử, song đôi khi rất ngông. Sống chung với người này không phải dễ”.

Trong những bài báo đánh giá cuốn hồi ký mới phát hành của Tổng thống Clinton “Đời tôi” (My Life), phần lớn các tác giả đều có nhận xét rằng dù ông này có rất nhiều cái đáng yêu và đáng ghét, nhưng ông ta là một người có những đặc tính tiêu biểu của người Mỹ, đó là “cần cù, năng động, tài năng, hiếu thắng, lý tưởng nhưng không hoàn thiện và đôi khi có biểu hiện bốc đồng”.

Cho dù tổng thống sắp tới của Mỹ là ai đi nữa, có lẽ thế giới cũng sẽ còn gặp nhiều ngạc nhiên với người bạn Mỹ của mình.