Hai Lần Trỗi Dậy

Hồi Ký của AH Bùi Đức Hợp



Chương 1: Trỗi dậy lần thứ nhất (1954-1975)

1. Di cư vào Nam

12 giờ trưa ngày 20 / 8 / 1954, phi cơ Dakota chở tôi và một số đồng bào đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất . Trời nắng chói chan và oi bức. Chúng tôi được tới dẫn tới  khu lều vải dựng tạm, làm nơi tiếp đón đồng bào di cư.  Sau khi giaỉ lao bằng cốc sữa bột, chúng tôi được chở tới bệnh viện Bình Dân, đường Phan Thanh Giản.
   Bệnh viện chật ních người, ngay cả hành lang nhà cầu cũng có những gia đình cư ngụ. Trước khi vào Nam, tôi nghỉ rằng mỗi gia đình sẽ được cấp một chỗ ăn ở đàng hoàng .
Tôi rụt rè hỏi người phụ trách trại :
- Tối nay tôi ngủ đâu ?
- Anh ngủ đâu tôi không cần biết, mỗi ngày tôi có nhiêm vụ cấp cho anh 10 đ.
Ngủ đâu đêm nay? Trong nhà cũng như ngoài hành lang, không còn một chỗ đủ để trải manh chiếu.  Ồn ào, nồng nực hơi người giống như cái chợ họp suốt ngày đ êm.
  Được bà con mách, tôi và  Thăng di chuyển tới một trạm tạm cư khác ở trường Tôn Thọ Tường, đường Trần Hưng Đạo.  Saigòn thật lớn , nhà cao đường rộng, xe cộ xả khói bóp còi inh ỏi.  Sau một nửa giờ lê dép, chúng tôi tới trường.
   Trường đang độ nghỉ hè, bàn ghế học trò xếp đống để có chỗ ăn ở cho đồng bào.  Tầng trên ,tầng dưới, cầu tiêu, chỗ nào cũng đông nghẹt người, chỉ khác ở đây không khí bớt ngột  ngạt nhờ ở hàng cây phượng vĩ quanh sân trường.  Đi lên, đi xuống nhiều lần tư tầng một tới tầng ba, tôi cũng không tìm ra một khoảng trống đủ để đạt tấm thân mình.  Thăng đề nghị  sẽ kê ghế ngủ tại văn phòng ban quản trị ,sau giờ làm việc.
   Mệt mỏi, căng thẳng, tôi ngủ thiếp đi cho đến khi thơ ký thúc giục:
 – Trả chỗ cho người ta làm việc, ông nội !
Tôi ra vòi nước công cộng, đánh răng và rửa mặt.  Cơ nghiệp tôi là một túi sách gồm chăn mùng, hai bộ quần áo, và vài thứ vật dụng linh tinh.
Ăn uống cũng là vấn đề nan giải.  Từ thủa cha sinh mẹ đẻ đến giờ, tôi chưa đi một mình vào nhà hàng, nên không biết phải gọi món gì, gọi thế nào, và trả tiền ra sao.  Chợt thấy tiêm hủ tíu bên lề đường Nguyễn Thái Học, ghi rõ 5 đ / 1 tô, tôi đánh bạo bước vào.
Với 10 đ trợ cấp, trưa 1 tô, chiều 1 tô, làm sao có thể no bụng.  Tôi một ngày một gầy đi.  Lang thang trong thành phố, tôi lạc tới nhà thờ Huyện Sỹ.  Tôi ực nước miềng khi thấy nhà bếp của cha đổ đi những thức ăn thừa thãi.  Biết ý, bà bếp dồn đồ ăn vào một tô bự, và biểu :
- Cháu ăn đi , cháu là học sinh di cư ?
Tôi đề nghị trả bà 5 đ / một bữa, bàcũng chịu.
Ăn xong, tôi đi vòng quanh nhà thờ, khám phá một  chỗ ngủ tại mái hiên trường Giáo Lý. Ngủ ở đây, tôi thấy thoải mái, yên tĩnh, có gió mát trăng trong . Ban ngày, tôi nghe ngóng tin tức về trường học, khuya tôi mới dám mò về mái hiên vì sợ nhà xứ đuôỉ . Hiu quạnh.  Bơ vơ.  Tủi thân.  Nước mắt giàn giụa, tôi nhớ nhà khôn tả.
 

*   *   *
 

Mùa hè năm 1954, tôi lên Hànội dự thi TúTài I . Cả trường đi thi, chỉ có tôi thuộc ban B, và Thăng ban C đậu . Từ đó, tôi mất liên lạc gia đình do chiến dịch “ban tay nắm, bàn tay mở “ của Pháp .
Không nguồn tiếp tế, tôi vô trường Puginier, nơi dành cho những học sinh mất liên lạc gia đình . Ở đây, tôi được nuôi ăn . Bù lại, tôi dạy toán cho các em lớp đệ II  . Tôi say sưa giảng , một phần vì tôi thuộc bài, một phần vì tôi học được cách giảng thu hút của thấy Cầu Văn Lang và thầy Sủng Hàng Bè . Sự thành công của tôi khiến cho một số đồng nghiệp trong trại ghen ghét . Đó là bài học đầu tiên của tôi về sự ghen tị của con người .
 Hiệp định Giơneo 20 / 7 / 54 chia đôi đất nước.  Tôi phải chọn giữa hai con đường “ đi và ở “.  Nếu ở , chưa chắc gì tôi được đi học, và nếu được đi học, tôi phải học theo chương trình khác . Thêm vào đó, mối lo sợ về sự phân biệt đối xử của chế độ mới . Nếu đi, tôi sẽ được đi học ttiếp . Với bằng Tú Tài I trong tay, việc học lên đại học, đối với tôi, không có gì khó . Tuy nhiên tôi cũng lo ngại nhiều về cuộc sống mới, cuộc  sống thoát ly gia đình . Một  yếu tố khác cũng góp phần vào quyết định đi là : tinh thích  mạo hiểm, muốn đi đây đi đó . Saigòn là viên ngọc của Viễn Đông mà tôi chỉ đọc qua bài “ Thành phố Saigòn “ trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư ( QVGKT ) .
Tôi quyết định vào Nam càng sớm càng tốt để được đi bằng máy bay, một phương tiện mà tôi chưa bao giờ mơ tới .
Xe tải chở tôi và một số đồng bào tới phi trường Gia Lâm trong lúc dân Hà Thành còn chìm trong giấc ngủ . Tôi mở to mắt nhìn tháp Rùa, hồ Gươm một lần cuối, biết bao giờ mới gặp lại !
“ Thăng Long, Hà nội đô thành,
Nước non ai vẽ nên tranh hoa đồ,
Cố đô rồi lại tân đô.
Nghìn năm văn vật bây giờ vẫn đây.”
                    ( ca dao )
Liễu vẫn rủ bên hồ, cột sáng muôn màu lấp lánh dưới mặt hồ . Trong thinh lặng vô tình của tạo vật, tôi buột miệng kêu : “ Mẹ ơi ! con giã từ đất Bắc “
 

*   *   *
 

Mưa hắt vào mái hiên khiến tôi tỉnh dậy . Nền nhà sũng nước, tôi đành ngồi bó gối chờ sáng . Cả tuần mưa vẫn không ngớt . Bị cảm nặng, tôi mơ ước một nồi nước xông, một chai dầu gió,một mái ấm gia đình . Mỗi lần tinh thần sa sút, tôi lại nghĩ tới ông Châu Trí trong QVGKT :
“. . . Song nhà nghèo, ông phải đến ơ ũnhờ tại chùa . Không có tiền mua dầu thắp đèn, ông phải đi quét lá đa, tối đến đốt lửa lên mà học . Ông học đến năm mười sáu tuổi đã đỗ giải nguyên . . .”
Thông cảm hoàn cảnh “tứ cố vô thân “ của tôi, anh B. Thăng có nhã ý mời tôi và Thăng về ở chung với hai mẹ con anh . Bà cụ dành dụm tiền mua một căn nhà sàn trong khu lao động Khánh Hội . Muốn tới nhà, phải qua cây cầu ngòng ngoèo, nước đen ngòm và hôi hám . Khi nước rút, đáy rạch lộ ra với bùn lầy, rác rưởi, chuột bọ . Anh dành cho tôi gác xép, mỗi lần đứng thẳng dạy, đầu tôi đụng vào mái tôn nóng bỏng, và có cảm giác như tóc cháy . Ở đây, tôi cảm nhận được tình thương của cụ .
Sang thu, trời Saigòn dễ chịu hơn . Chính phủ bắt đầu quan tâm tới học sinh di cư mất liên lạc gia đình . Qua thông cáo, tôi giã từ cụ và dọn đến nhà hát tây thành phố, đầu đường Bôna ( Lê Lợi ) . Nơi đây, chúng tôi được cấp phát tiền và gạo.
Chiều chiều, tôi thả bộ dọc theo đường Catina ( Tự Do ) từ nhà thờ Đức Bà đến bờ sông Saigòn . Tôi say sưa ngắm nhìn những cửa hàng nhiều tầng, khách sạn sang trọng, xe hơi lộng lẫy, ánh đèn nêông lung linh giữa hàng me . Saigòn đã hiện ra, còn đẹp hơn trong trí tưởng tượng tôi .
Ở nhà hát tây khoảng một tháng, chúng tôi được lệnh di chuyển xuống trại hoc sinh di cư Phú Thọ, vừa mới xây cất xong trên bãi rác cũ . Trại gồm những dãy nhà sàn, lợp tôn, phân tầng, trông xa giống như chuồng bồ câu khổng lồ . Cứ hai học sinh ở một lô dài 3m rộng 2m, cao 1.5m, học sinh cùng lớp ở chung một nhà . Mặt sau là cửa xếp, có thể dùng làm bàn học . Trừ tiền ăn , mỗi tháng hoc sinh còn được lãnh 90 đ . Chỉ vào dịp lãnh lương,tôi mới dám ra chợ Thiếc, kêu đĩa chân gà 5 đ gặm một cách ngon lành
Cùng ở trại, có Lạc, cháu gọi tôi bằng chú ruột . Lạc kém tôi 3 tuổi, một mình di cư vô Nam bằng tầu há mồm . Tôi rất thương cháu, nhưng cảnh ngộ tôi cũng bi đát như cháu :
            - đói ( nhịn đói dài dài vì không cótiền ăn sáng )
            - rách ( vài bộ áo quần mang theo nay đã rách )
            - cô ( thiếu tình thương )
            Trong khi chờ đợi trường khai giảng, tôi kiếm chỗ dạy học tư gia . Mặc dầu lớp học chỉ có hai em – một học lớp 3, một học lớp 4 -, tôicũng say sua giảng như lớp học đông người . Nhờ vậy, tôi dành tiền tậu đước xe đạp cọc cạch .
Có bằng Tú Tài I, tôi được nhận ngay vào lớp đệ nhất B2 trường Chu Văn An . Trường mượn tạm chỗ dạy trường Petrus Ký . Năm đó, cụ Xán làm hiệu trưởng, cụ Văn giám học, ông Lãng tổng giám thị . Học trò sợ nhất thầy Ngà dạy toán, cả lớp ngồi im phăng phác . Đảo mắt nhìn quanh lớp, thấy anh nào  có vẻ nghịch ngợm, thầy chỉ mặt và bắt nhắc lại những định lý vừa giảng ( hiểu cũng chưa nổi, huống hồ là nhắc lại ! ) . Ngó qua bên trường Đại Học Khoa Học, thấy các sinh viên trong áo blouse trắng loay hoay thí nghiệm, tôi ước mơ ngày nào đó tôi sẽ làm như vậy .Cuối niên học, tôi đậu Tú Tài II với hạng bình thứ một cách dễ dàng .
Lần đầu tiên, tôi ăn tết tha hương . Chung quanh chợ Bến Thành baỳ bán mất đủ loại,dưa hấu, mai vàng, tôi lủi thủi ra bến Bạch Đằng hóng mát . Nhìn thuyền bè xuôi ngược, tôi chạnh lòng nhớ quê :
“ Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều “
                                                  ( ca dao )
 

*   *   *
 

            Cứ mỗi lần Tết đến, nhà tôi đều mổ heo, gói bánh chưng, giã dò, tát ao bắt cá . Anh em tôi dù đi học hay làm xa cũng về quê ăn Tết . Chiều 30 Tết, chúng tôi băng qua các cánh đồng ải, thắp hương trên mộ phần, mời tổ tiên về nhà ăn Tết với con cháu . Tết là thời kỳ đẹp nhất của tuổi thơ .
Làng Xuân Bảng là nơi chôn rau cắt rốn tôi . Cũng như các làng khác thuộc đồng bằng sông Hồng, làng tôi có lũy tre xanh bao bọc, có đình chùa . Nhạc của Chung Quân đã gợi lên hình ảnh của quê tôi:
“ Làng tôi có cây đa cao ngất tầng xanh
Có sông sâu lờ lững vườn quanh “
Đình có chính điện thờ Thành Hoàng, điện bên phải thờ Khổng Tử, và nhà bên trái là nơi các quan viên họp , tất cả cột, dầm đều bằng đá tảng . Phía sau là vườn nhãn xanh quanh năm . Bao quanh đình là dòng sông uốn éo . Trước đình là nhà đánh cờ tướng, trông ra cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay . Nhiều trưa hè, nằm duỗi chân trên ghế đá, tôi đánh giấc ngủ ngon lành giữa tiếng sáo diều vi vút . Sau đình là đường cái quan, bọn trẻ chúng tôi thường cạy đá dăm, mài bi bên  mố cầu ,mài đến phỏng cả tay mà bi vẫn chưa tròn . Thỉnh thoảng bắt gặp xe hủ lô bánh sắt chạy sình sịch bằng hơi nước, bọn trẻ ném đá vào bánh xe để thấy viên đá bị nghiền nát, vỗ tay cười . Đó là hình ảnh sở Lục Lộ trong ký ức tôi .
Hồi học lớp Đồng Ấu, tôi dậy thật sớm ;  từ lầu hai,tôi đọc to những bài học cho  cả nhà nghe thấy, nhất là nhũng bài trong QVGKT như : Tôi đi học, Yêu mến cha mẹ, Giúp đõ cha mẹ, Đứa trẻ có lễ phép, Người học trò tốt, Đi phải thưa về phải trình, Hoc trò đối với thầy .v .v .
Đến giờ này, tôi có thể đọc thuộc lòng những bài như : Gọi dạ bảo vâng, Anh em như thể chân tay, Học hành phải siêng năng, Trời mưa, Con trâu với người đi cày v . v. Một nhà phân tâm học đã nói : “ Điều gì học từ thơi còn trẻ thì giữ lâu hơn những điều học khi lớn .’’
Qua QVGKT ,chúng ta đã học nhiều điều bổ ích như : bổn phận làm con đối với cha mẹ, kính mến ông bà, thờ phụng tổ tiên, tình bằng hưũ, cách đối xử với kẻ ăn người ở trong nhà, bổn phận đối với chính mình, học đường, xã hội, bài học khôn ngoan cũng như cách xử thế khôn khéo v .v.
Có lẽ vì hiếu học như vậy, thầy ( tôi ) gởi tôi lên Nam Định học . Tôi theo người nhà ra đò Quản Khuông, đậu tại bến Trung Linh . Chỗ sông sâu người kéo đò, chỗ nước cạn dùng sào đẩy, ngược  sông Ninh Cơ, đến ngã ba Cựa Gà, rồi theo sông Hồng, sông Đào, đổ lên bến Thóc . Đò cặp bến, đèn điện sáng chưng, tiếng rao lạ tai “ Bánh mì nóng dòn ! “, tả làm sao hết những hao hức của cậu bé sáu tuổi, lần đầu ra tỉnh . Anh Tạm va ụtôi trọ học tại nhà ông Ba Nghiêm, phố Saigòn . Trường tôi  học là trường Jules Ferry  toa lạc trên đồi cao, bên kia ao rau muống là trường Thành Chung, phố Cửa Hậu, nơi anh tôi đang học . Trường tôi nay đã bị san bằng .
Năm sau, tôi lên học tại trường huyện Đông Anh, tỉnh Thái Bình, nơi anh Biều đang làm thừa phái. Thỉnh thoảng , tôi được chú Giống kéo xe tay chở  đi học .
Hồi thơ ấu, tôi  có tật hay khóc nhè, vì vậy tôi mang biệt danh chú Kếu . Chỉ cần ai chọc ghẹo tôi về chuyện vợ chồng như nói tên cô Thúy hay tên ông Lý Uyển ( bố vợ hứa hôn ! ), tôi khóc rả rích từ giờ này sang giờ khác, chỉ ngưng khi có người dỗ . Nước mắt đã theo đuổi cuộc đời tôi, chỉ cần nghe một chuyện thương tâm hay thấy một cảnh ngộ đau lòng là nước mắt tôi tràn ra .
Ho ỉhàng nhà tôi rất đông con cháu . Mới 9 tuổi, tôi đã có cháu gọi bằng ông . cháu Phi suýt soát tuổi tôi, thường cõng ông đi vòng quanh nhà ,lâu lâu cháu quay lại , giả vờ vuốt râu ông . Bây giờ, cháu đã ngoài 60 ,còn ông vẫn chưa có râu dài để cháu vuốt . Gặp lại nhau, tôi hỏi cháu:
- cháu còn nhớ kỷ niệm xưa ?
- Nhớ, bây giờ, cháu không còn đủ sức cõng ông nữa.
 Năm Nhật đảo chính Pháp, tôi đậu bằng Sơ Học Yếu Lược và trở về làng học lớp nhì chương trình Việt .
Tới lớp nhất, thầy tôi lâm trọng bệnh . Thầy giáo Bội dùng thôi miên chữa trị . Mỗi lần thăm bệnh, ông xoa bàn tay trên bụng thầy, miệng lẩm bẩm :
 - Bệnh cụ rồi sẽ khỏi .
Thầy tôi từ trần ngày 28 / 11 / 48, để lại cho con cháu muôn nghìn thương tiếc . Bề ngoài tỏ ra nghiêm khắc, bản tính thầy tôi rất tốt, thương yêu con cháu . Mỗi lần các anh tôi phạm lỗi, dù đã có vợ con, thầy bắt đương sự nằm úp xuống, đánh vào đít bằng roi mây . Số roi nhiều hay ít tùy theo tội nặng hay nhẹ.
Cùng năm đó, tôi trượt thi bằng Tiểu Học . Để khỏi mất một năm, tôi xin mẹ tôi ỉhọc lớp đệ Thất  trường trung học tư tại Hành Thiện, do ông cử Tiễn làm hiệu trưởng . Hành Thiện  cách  xa làng tôi 8 km, chị Tạm gởi tôi trọ học nhà anh Tuệ, giáo sư dậy Pháp Văn . Lúc rảnh, tôi kèm dạy cháu Chư ( hiện nay là Bộ Trưởng bộ công nghiệp nặng ), và học thuộc lòng cuốn tự điển bỏ túi Pháp Việt .
Chiến sự dồn dập, quân Pháp chiếm Bùi Chu ,và  lập khu tự trị . Trường trung học công lập đầu tiên được thành lập ,lấy tên Hồ Ngọc Cẩn, trụ sở đặt tại dinh cụ Thượng Oánh, Lục Thủy . Tôi ghi tên học lớp đệ Lục, mỗi ngày tôi cuốc bộ tù làng tới trường khoảng 8km . Mùa đông, nón lá áo tơi để chống lại gió bấc mưa phùn, vào lớp tay chân run lẩy bẩy, hai hàm răng khua vào nhau . Mùa hè, đôi chân bỏng rát vì đá dăm ,nhựa đường .
Anh ngữ thay thế Pháp ngữ, chúng tôi bắt đầu học quyển Anglais vivant . Sách này đã mở cho tôi một chân trời mới  về nếp sống Tây Phương . Chỉ tiếc rằng giáo sư dạy Anh ngữ phát âm sai , nó trở thành thói quen tệ hại cho học sinh .
Đầu tháng 7/ 50, trường di chuyển về Trung Linh, đời đạo học chung với nhau . Làng tôi kế cận Trung Linh, nhà tôi trở thành chỗ trọ cho các cháu bên ngoại : Tuyền, Lưu, Trâm, Quyên ( con anh Vỹ ) , Rong (con anh Vậng) , Liên, Đào ( con anh Giáp ) . Trong số đó, tôi gần gũi và thân mật với Quyên hơn cả . Các cháu và tôi thường ngủ chung trên sập gỗ rộng mà trước đây thầy và các bạn của thầy dùng làm chỗ đánh tổ tôm .
Khi chiến cuộc lan tràn, mẹ tôi thuê nhà ông xã Đảo tại Trung Linh . Hàng tuần, em Nhiệm quẩy đò tiếp tế như gạo mắm . Ban đêm, đại bác câu về phía làng, tôi tiếp tục học ở đây cho hết năm đệ Tứ .
Tói kỳ thi Trung Học Phổ Thông, tôi lên Nam Định thi tại trường Nguyễn Khuyến, phố Bến Củi, và ở nhờ nhà chị Đăng, #45 phố Bến Thóc . Chị tôi rất thương em, thường lén lút gọi em ra chợ Cửa Trường ăn tiết canh cháo lòng .
Ngày xướng danh , tôi trách chị :
-  Sao chị cho các cháu đi coi nhiều thế ?
- Chúng nó mừng cho cậu .
-  Nhỡ trượt !
-  Chúng nó khiêng cậu vế , chị tôi vùa cười vùa nói .
Cũng may, tôi đậu bình thứ .  Cả tỉnh đi thi, chỉ có  mình tôi đậu . Tháng 5/ 52, Việt Minh tấn công Trung Linh, bắt đi cha Cung, cha Kính, người Bỉ phụ trách phòng thí nghiệm Lý Hóa . Trường dời sang Bùi Chu, bên trong tòa Giám Mục . Mẹ gởi tôi lên Bùi Chu ở trọ nhà bác Nghị, bác tôi cũng đi lánh nạn, thuê lại nhà của ông giáo Phụng . Nhà quê chỉ có ao tù nước đọng, ăn uống, tắm rửa giặt giũ cũng một ao . Không tiền mua thuốc đánh răng, tôi chà răng và súc miệng bằng nước ao tù, đó là lý do răng tôi rụng quá nửa ở tuổi 65 .
Biết thân phận, tôi ráng học . giáo sư toán vừa đọc xong đầu bài, tôi đoán được những câu hỏi . Các bạn cùng lớp lầm tưởng tôi đã giải bài toán này, nhưng nếu suy từ dữ kiện đã cho ( giả thiết ), ta không thể không đi tới những câu hỏi ( kết luận ) . Trang ghi trong kỷ yếu Hồ Ngọc Cẩn : “ Hợp hiền lành và dễ thương, thông minh và học siêng vô cùng . Những định lý anh đọc không thiếu dấu phẩy, còn bài tập thì khỏi nói, thầy Quyến cho bài về nhà làm, Hợp không những làm hết mà còn làm thêm . ( X. phụ chương I ) .
Cuối năm đệ Nhị, tôi được phần thưởng Quốc Trưởng Bảo Đại . Nhà trường tổ chức lễ rước chung quanh nhà thờ để vinh danh nhũng hoc sinh xuất sắc . Sau đó, tôi từ giã mẹ và em tôi lên Hànội thi Tú Tài phần I .



Xem tiếp