Hai Lần Trỗi Dậy

Hồi Ký của AH Bùi Đức Hợp



Chương 1: Trỗi dậy lần thứ nhất (1954-1975)

2. Giấc mơ thành tựu

Sau khi đậu Tú Tài II, tôi thập thò bước vào ngưỡng cửa đại học . Không ai cố vấn, tôi biết chọn ngành chuyên môn gì ?
-theo ban PCB ( sinh lý hóa ) để ra bác sỹ, dược sỹ nhưng học quá lâu .
-còn sư phạm, tuy là sở trường, tôi chỉ thích ngành nào có dính dáng đền khoa học kỹ thuật .
-thôi đành học MPC ( toán lý hóa ) để chờ thời .
Ban MPC thỏa mãn tính tò mò của tôi . Khi có giờ rảnh, tôi nhảy vào phòng thí nghiệm để thực hiện những phản ứng hóa học mà tôi đã tiếp thu từ hồi Trung Học . Hòa một chút acít với chất base, muối kết tủa hiện ra với màu sắc lộng lẫy .
Rời trại Phú Thọ, tôi nộp đơn xin vô đại học xá Minh Mạng , và được cấp 1 giường thuộc dãy N . Sinh viên cư ngụ trong phòng bế quan tỏa cảng , họ chỉ muốn ở rộng, không cho người khác ở chung . Tôi trình lại ban quản trị, được ông Giám Đốc chỉ dẫn :
- năn nỉ với họ vậy .
- ? !
Mỗi ngày một bài học mới, lúc nào tôi cũng phải đề cao cảnh giác . Ở đai học xá dễ chịu hơn , mỗi sinh viên được trợ cấp 500đ, chỉ đủ trả tiền cơm và chi tiêu lặt vặt . Không tiền mua sách, quần áo, tôi viết cours Lý Hóa cho trường tư thục Chu Mạnh Trinh . Nghề viết cours tương đối dễ kiếm tiền, tôi dịch sách Pháp và xào nấu lại cho có vẻ “ tự sáng tác “ .
Qua thông cáo trên đài, bộ Công Chánh mở kỳ thi đặc biệt tuyển sinh viên cao đẳng công chánh, tôi vội nộp đơn thi . Bây giờ, tôi mới biết rằng nước ta có trường đào tạo kỹ sư công chánh, mộng ước của tôi có cơ thành tựu .
Tới ngày thi, tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy các bạn MPC đều xin nghỉ phép, không ai bảo ai đều có mặt tại trường thi . Tôi dễ dàng qua kỳ thi viết, nhưng lo ngại cho kỳ thi thể dục . Từ bé đến giờ, tôi chưa đụng tới dây leo . Nhờ Giám Khảo dễ dãi, tôi cũng leo tới đỉnh , nhưng bằng cả hai chân !. Khó ăn nhất là môn vác bao cát nặng 20 kg chạy bộ 100 m .Bao cát quá to so với thân hình ốm tong teo của tôi .Đảo mắt thấy bao nhỏ nhất, bị chọc thủng từ trước, tôi vội vác bao chạy, sợ Giám Khảo trông thấy,  đổi ý.
Cuộc sống bắt đầu dễ chịu , hoc bổng công chánh tăng lên 800đ/ 1tháng . Tới kỳ lãnh tiền, tôi tự thường cho mình 1 ly nước mía Viễn Đông .
Năm thứ nhất, chúng tôi học nhờ trường Thực Nghiệp, đường Hồng Thập Tự . Toi đâu có ngờ chương trình dạy toàn bằng Pháp văn ! ,tôi đãbỏ tiếng Pháp từ hồi đậu Sơ Học Yếu Lược . Các đồng môn đều xuất thân từ trường Phápnhư Taberd, Puginier, Chasseloup Laubat, họ nói tiếng Pháp nhanh như gió . Tôi chỉ trố mắt nhìn khi thấy họ tranh luận và chửi nhau  bằng tiếng Pháp . Trong lớp, nghe tiếng được tiếng không, tôi không thể lấy notes hết, ngó sang bên cạnh, hắn tỏ vẻ khó chịu ! Đó là những nỗi khổ tâm của học sinh trường Việt .
Nói chung, các thầy đều tận tâm dạy ,giảng giải rõ ràng . Thày Breton với mái tóc bạc, dạy chúng tôi môn trắc địa . Thày thường đưa chúng tôi ra đường Cường Để, gần nữ tu viện, hoc nhắm máy . Thày Marguetti dạy môn xây dựng đường, thầy vừa ngậm thuốc lá vừa nói li nhí trong miệng . Tôi chẳng hiểu gì cả, tôi bèn hoc thuộc lòng cours de routes dày 200 trang in roneo . Môn hình học họa hình khó nuốt do thầy Sách phụ trách . Thầy thường mắng  idiot (ngu ) đối với trò nào không sáng dạ. Thầy Dưỡng dạy môn đường sắt, giọng to, khó ai có thể buồn ngủ .Thầy Sáu giảng thao thao bất tuyệt về xây dựng công trình ngoài biển . Thầy Tạ Huyến dạy tính toán khối lượng đào và đắp đất, thinh thoảng , thầy chêm tiếng Việt .
Niên học 1956- 1957 ,trường Cao Đẳng Công Chánh dời về Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ, trường chiếm một cao ốc ba tầng có giảng đường lớn và phòng thí nghiệm rộng rãi . Sang năm thứ hai, tôi có thể lấy notes đầy đủ và sẵn sàng cho  những ai mượn khi cần đến, tôi đã xóa nhòa ranh giới giữa trường tây và trường ta .
Dịp hè, chúng tôi  tập sự tai các công sở hay công trường . Có lần chúng tôi thăm viếng đập Đồng Cam, Phú Yên, một công trình thủy lợi lớn nhất ở miền Nam lúc bấy giờ với hệ thống mương tưới tối tân . Lượt đi, chúng tôi lấy vé xe lửa có giường nằm ; lượt về Hùng đề nghị lấy vé ngồi để có dư chút tiền tiêu vặt . Tuy mệt mỏi vì ngủ ngồi, nhưng ai nấy đều hoan hỉ .
Tới năm thứ ba, các sinh viên có điểm trung bình trên 14/ 20 đều được học kỹ sư , vừa đi học vừa lãnh lương cán sự  5200đ /1 tháng . Đó là những ngày tháng huy hoàng nhất ; tôi bắt đầu dùng xe máy đi học, áo quần tươm tất, có người mang cơm tháng tới tận phòng, thay vì xuống nhà bàn . Trong niên khóa này, tôi mến thầy Oành, thầy say sưa giảng “ sức bền vật liệu “. Thầy Vaudiot, một kỹ sư già dặn kinh nghiệm giảng khúc triết về môn cầu .
Chẳng mấy chốc tới kỳ thi ra trường, mỗi đêm tôi chỉ ngủ chừng 4 tiếng để có thể nộp đồ án đúng thời hạn . Nửa đêm, Lễ,Căn, và tôi thường ăn phở gà tại  Xuyến, Phú Nhuận, sau đó trở về nhà Lễ tiếp tục chong đèn học .
Niềm hân hoan khôn tả, sau gần bốn năm đèn sách ,tôi được cấp bằng KỸ SƯ CÔNG CHÁNH ngày 20/ 1/ 1959 .



Xem tiếp