Xin cho em một lần sáng mắt - 2

Bùi Đức Hợp

Bước kiểm tra

                                                                                                
Sở dĩ tôi dám mạnh dạn “đầu tư” vào dự án “Khơi nguồn ánh sáng”(KNAS) là vì tôi có cả một nhóm Sơn Nam gồm nhiều thiện nguyện viên đầy nhiệt tâm thiện chí như:
- Nùng, cháu ruột tôi, cư ngụ tại Hà Nội.
- Đàm, anh bà con của Nùng, thành phố Nam Định.
- Phán, cháu rể của Đàm, xã Xuân Tiến, H. Xuân Trường
Không ngại khó khăn gian khổ, họ sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ gì để kiểm tra công tác KNAS.

Ngày 7/6/05, Đàm chở tôi bằng xe máy từ thành phố Nam Định về bệnh viện huyện Xuân Trường, đóng tại xã Bùi Chu.  Xe băng qua những cánh đồng lúa chín thuộc huyện  Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường.  Mùi thơm của lúa chín khiến tôi tỉnh táo, dễ chịu.  Lũy tre bao quanh làng mạc nay không còn nữa, được thay thế bằng rặng phượng vĩ, bằng lăng.  Ngồi trên xe, tôi nhắc Đàm: “chỉ giới thiệu tôi là người đồng hương”.  Với cách phục sức quá ư là dân dã, áo ngắn tay màu lam, quần xanh thẫm, chân đi dép, tôi trông giống như một dân đồng quê hơn là người thành thị.
Gửi xe ngoài cổng bệnh viện, chúng tôi đi thẳng vào khoa Mắt.  Khoa gồm 3 phòng: phòng chờ khám, phòng giải phẫu, và phòng dưỡng bệnh.  Nhân viên bệnh viện cho biết chưa bao giờ khoa Mắt lại đông bệnh nhân đến thế!  Với danh nghĩa “đại diện thường trực của nhà tài trợ tại bệnh viện”, Phán đưa chúng tôi thẳng tới phòng dưỡng bệnh.  Phòng dưỡng bệnh gồm 4 giường đơn, trên mỗi giường 2 bệnh nhân nằm trở đầu.  Người đầu tiên mà chúng tôi tiếp xúc là cụ Nguyễn Thị Hải, 89 tuổi, xã Xuân Đài.
- Thưa cụ, cụ đến đây hôm nào?
- Già đến đây từ hôm thứ ba (cách đây 2 ngày). Hôm qua mổ mắt, mai bác siõ cho về.
- Cụ có phải trả một đồng tiền nào không?
- Hoàn toàn miễn phí, ông ạ!
- Còn việc cơm nước thì sao?
Chỉ tay vào em bé, 7 tuổi, đứng thập thò ngoài cửa, cụ cho biết:
- Cháu xin phép nghỉ 1 tuần để đưa bà đi mổụ.  Mỗi bữa cháu mua cơm hộp 5000 đ (tương đương với 33 xu Mỹ) tại cửa hàng ngoài cổng, hai bà cháu cùng ăn.  Ban đêm, nó ngủ dưới chân giường, những thân nhân khác thường nấu nướng, ngủ ngoài hiên.
Cụ khen các bác siõ trên tỉnh về, mát tay, mổ khéo.
Đến từng giường, tôi trao tận tay mỗi bệnh nhân một bao thự đựng 50.000đ, thay vì tặng 4 hộp sữa Ông Thọ và 2 kí đường.
Nhiều người cảm động, run run nói:
“Từ ngày vào đời đến giờ, tôi tưởng như mơ mà thật, nhà tài trợ không những cho tôi sáng mắt, mà còn cho quà nữa”.
Y tá ở đây ân cần săn sóc bệnh nhân, khác hẳn với tình trạng sách nhiễu nguời bệnh, thái độ thờ ơ, lạnh lùng của nhân viên y tế tại nhiều nơi.  Còn Phán hy sinh công việc nhà, thường xuyên đến đây để an ủi, săn sóc, giúp đỡ từng người bệnh.
Bác siõ Giám Đốc niềm nở hướng dẫn tôi tới phòng giải phẫu, đang mổ mắt cho 2 bệnh nhân.
- Thưa bác sỹ, điều kiện để được mổ?
- Bệnh nhân trên 18 tuổi, không bị tiểu đường.
- Còn lệ phí?
- Những người có sổ nghèo, hoàn toàn miễn phí; những người không có sổ nghèo chỉ phải trả chi phí quản lý  500.000đ, vì công tác giải phẫu mắt không dự trù trong ngân sách bệnh viện Huyện. 
Sau này, tôi được biết, số tiền 500.000đ dùng để đài thọ chi phí ăn, ở, cho các bác siõ giải phẫu, từ trên tỉnh về.  Chiều qua, chúng tôi ghé thăm bác Tiến gái, nhà ở Nam Định, mới ở viện về.  Bác cho biết: “Tôi không có sổ đỏ, nhưng tôi hài lòng về việc đóng góp 500.000đ, vì nếu mổ ngoài, phải tốn 3 triệu đồng một con mắt, đấy là chưa kể những phí tổn tàu xe, ăn chực nằm chờ” .
Rời bệnh viện Huyện, Đàm đưa tôi một danh sách dài 5 trang gồm 118 người đã được mổ trong đợt đầu (tính tới ngày 31/5/05) tại 2 huyện Xuân Trường và Giao Thủy. Tôi lựa một cách ngẫu nhiên số gia đình đến thăm; nếu đi hết, chắc phải ăn dầm nằm dề ở đây cả tháng!
Buổi chiều, nắng oi bức, mồ hôi đầm đìa.  Băng qua nhiều cánh đồng lúa, chúng tôi lần lượt đến thăm các cụ thuộc huyện Xuân Trường như:
+ Phạm Ngọc Châu, 72t, xóm 8, xã Xuân Hòa
+ Bùi Thị Cần, 79t, xóm 2, xã Xuân Hòa
+ Ngô Đức Khâm, 65t, xóm 4, xã Xuân Tiến
+ Trần Thị Ước, 84t, xóm 7, xã Xuân Trung
+ Nguyễn Thị Châu, 82t, xóm 8, xã Xuân Phong
Kiếm địa chỉ của các cụ rất khó, dân địa phương quen gọi tên chồng, thay vì tên cái của các cụ.  Đi đến đâu, tôi đều tặng quà, và xin phép hỏi quý cụ 2 câu:
- Cụ có phải trả tiền cho bệnh viện không?
- Sau khi mổ, mắt cụ thấy rõ không?
Cụ Châu, tóc bạc phơ, gọn gàng trong bộ áo hồng, quần thâm.  Cụ tiếp chúng tôi tại phòng khách của một ngôi nhà ngói 3 gian, hai gian bên làm phòng ngủ.  Dằn cơn xúc động một hồi lâu, cụ mới lên tiếng:
“Trước đây, lão khổ sở, đơn độc lắm ông ạ, mù lòa có thấy gì đâu, xuống bếp, phải sờ soạng, mò mẫm.  Giờ đây, lão có thể làm lấy một mình, kể cả việc ra ao tắm”.
Nhiều gia đình giết lợn ăn mừng, khi thấy mẹ, hoặc bà sáng mắt trở lại.
Bình minh hôm sau, chúng tôi đi thăm cụ Trần Thị Chi, 88t, xã Xuân Tiến.   Chúng tôi ngồi chờ đợi trong phòng khách để cô con dâu sang hàng xóm mời cụ về.  Khi về tới nhà, cụ bày tỏ lòng vui sướng:
“Lão thích đi thăm bà con lối xóm; giờ đây, lão đi nhà thờ đọc kinh, ra ao tắm rửa một mình, không cần đến con cháu.  Cảm ơn Chúa, cảm ơn Đức Mẹ, cảm ơn quý ông!”
Rời Xuân Tiến, con ngựa sắt hai bánh đưa chúng tôi tới huyện Giao Thủy.  Người đầu tiên mà chúng tôi tới thăm là cụ Hoàng Văn Viện, 90t, thuộc xã Giao Tiến. Việc tìm kiếm địa chỉ rất khó khăn, nếu trong danh sách không ghi rõ số tổ, số đội.  Cũng may, cụ là người cao tuổi nhất trong xã, nên mọi người biết danh cụ.  Bà hàng nước đầu làng vui vẻ chỉ đường:
- Hai ông đi thẳng tuốt, tới ngã ba quẹo trái, rồi đi thật sâu, gặp ai hỏi tiếp.
Phải nhiều cái “hỏi tiếp”, chúng tôi mới tới nhà cụ.  cụ gọi cụ bà, nàng dâu ra chào mừng chúng tôi.  Vì còn phải đi nhiều xã khác, tôi không thể ở lại hầu chuyện lâu với cụ.
Rời Giao Tiến, tôi đến Hoành lộ, nay gọi là Hoành Sơn, quê ngoại của tôi.  Phần đông những người đã được sáng mắt là bà con bên ngoại.  Để tranh thủ thời gian, tôi nhờ cháu Ái, con anh chị Kính, chở tôi đến bái yết nhà thờ tổ họ Nguyễn trước, sau đó đi thăm từng nhà.  Chị Cừ đeo kính mát, rối rít gọi con cháu ra chào chú.
- Em đã giấu kín tên tuổi mình, sao chị hiết em tài trợ chương trình này?  Tôi hỏi.
- Đài truyền thanh, truyền hình Huyện đọc tên chú hàng tuần.
- Mắt chị thấy rõ chưa?
- Rõ nhưng hơi cộm.
Tôi khuyên chị không nên dụi mắt, tránh bụi và nước, nhỏ thuốc nhiều ngày liên tiếp như lời dặn trong toa bác sĩ, nhất là không được coi Tivi, đọc báo.
Vì đường còn xa mà chương trình còn dài, tôi buộc lòng từ chối bữa ăn trưa của anh chị Kính.
Xã mà tôi muốn đến thăm hơn cả là xã Hồng Thuận, nơi đây đã xẩy ra cuộc xô xát đòi đất đai giữa công an và dân chúng, và cũng là nơi cư ngụ của cụ Nguyễn Văn Hòa, 95t.  Để tránh thăm vào giờ trưa, tôi tạt vô đài Tử Siõ xã đánh một giấc ngủ trưa “chớp nhoáng” trên bờ hè.  Cảnh “cơm bụi ngủ bờ” đã quá quen thuộc với tôi trong những ngày đi công tác.
Nhà cụ ở cuối ấp, đìu hiu, vắng vẻ.  Để xe ngoài đường cái, chúng tôi đi bộ mon men theo bờ ruộng.  Tới nơi, chúng tôi xin phép được vô thẳng phòng ngủ thăm cụ.  Giường trải nệm hoa, trên tường treo cây thánh giá lớn màu nâu sẫm nổi bật trên nền vải trắng tinh.  Cụ nhỏm dạy tiếp chúng tôi:
- Đường sá xa xôi mà quý ông cũng đến thăm, thật là quý hóa quá!
- Kính thưa cụ, cụ có khỏe không?
- Mắt già đã không thấy đường từ năm nay, cả ngày nằm trên giường.  Sau khi mổ xong, lão đã thấy đôi chút, cảm ơn quý ông!
Trong lúc trò chuyện, thỉnh thoảng cụ ngước lên Thánh Giá như muốn an ủi Chúa đang chịu khổ hình trên cây thập giá.
Từ giã Hồng Thuận, chúng tôi băng qua Ngô Đồng, Cồn Nhất, Cồn Nhì, rồi xuống xã Giao Thiện.  Theo chương trình, chúng tôi dự định thăm 3 cụ tại ấp Giao Thiện (Đinh Thị Kính 60t, Vũ Thị Lạc 81t, Trần Viết Chan, 66t) và 3 cụ tại ấp Giao Lạc (Nguyễn Thị Phiệt 88t, Nguyễn Thị Nhiêu 77t, Trần Thị Em 74t), nhưng mặt trời đã khuất sau bờ đê, chúng tôi chỉ đủ thì giờ thăm cụ Lạc và ông Chan.  Tất cả đều khỏe mạnh và sáng mắt.
Chúng tôi dành ngày chót (28/6/05) cho Xuân Bảng, nơi chôn rau cắt rốn của tôi.  Sau khi thắp hương trên phần mộ tổ tiên, tôi cùng cháu Vịnh, Phán thăm từng gia đình.  Ở đây, tôi không thể dấu lý lịch, vì phần đông dân làng biết rõ gốc gác tôi.
- Cụ đã vềỉ!
- Ông đã về!  
- Chú đã về!
Tiếng chào hỏi vui mừng từ những bà con, trên đường tôi tới nhà bà Hoàng Thị Truy.  Nắm chặt lấy tay tôi, bà cảm động nói:
- Tôi sung sướng quá!, vì nay đã thấy.  Cảm ơn các nhà tài trợ Cali!
Riêng trường hợp ông Đinh Văn Tái, 67t , cao máu, nhìn không rõ, tôi đề nghị ông nên tái khám.
Thấy danh sách Xuân Bảng vỏn vẹn có 5 cụ (2 vị kể trên, Phạm Thị Hợi 75t, Nguyễn Thị Thái 72t, và Phạm Thị Biểu 82t), tôi yêu cầu Vịnh và Phán “lùng” kiếm những người khiếm thị trong làng; nếu cần, các cháu giúp họ phương tiện lên bệnh viện Huyện.  Phán tiếp lời:
“Sau đợt mổ này, Tỉnh sẽ tạm ngưng; đến tháng 11/05, sau mùa gặt, mới mổ tiếp” .
Sau những tháng ngày dầm sương dãi nắng, tối hôm đó, tôi lên cơn sốt nặng, khản cả tiếng.  Nhờ được sự săn sóc tận tình của chị Yêm và các cháu, tôi mới có đủ sức về Hà Nội.  Trước khi chia tay, chị thay mặt cho nhóm thiện nguyện Sơn Nam, tặng tôi một tượng Đức Mẹ La Vang cao 6 tấc.  Mỗi lần cầu nguyện, tôi nhớ tới chị, hình ảnh của người phụ nữ VN đảm đang và đức hạnh.
Trong thời gian công tác KNAS, tôi nhân được nhiều thư từ, điện thư khích lệ của họ hàng, thân hữu, trong đó phải kể:
+ I-meo của nhà văn Bùi Ngọc đề ngày 28/1/05: “Anh là người rộng lượng, yêu quê hương đậm đà.  Một lúc anh bỏ ra số tiền lớn để giúp đồng hương, một cử chỉ vô cùng quý hóa.”
+ Thơ đề ngày 8/3/05, Nùng viết: “ Dự án của chú đã có tiếng vang lớn.  Có người nói: Ông Hợp đã khơi nguồn ánh sáng cho tỉnh Nam Định, số tiền không lớn của ông Hợp đã được sử dụng với tấm lòng cao cả nên nó có giá trị bằng 1 triệu MK.
Cụ Nguyễn Thị Khen 85 tuổi, sau khi sáng mắt đã nói: “Cảm ơn quý ông, tôi được nhìn thấy lại con cháu, ruộng vườn, nhà cửa, dầu sau này có về với tiên tổ cũng vô cùng sung sướng”
Cụ Đặng Thị Thơm nói: “Từ ngày sáng mắt lại, tôi lo rằng sau một đêm ngủ tỉnh dậy, mắt sẽ không còn sáng lại được nữa”.
+ I-meo của cháu Hải gửi đi tại Sài Gòn ngày 16/3/05: “Bác ơi! không phải ai cũng làm được những việc như bác, cháu biết có nhiều người rất giàu, nhưng họ không có tấm lòng nhân ái như bác.  Cháu rất cảm phục và xúc động, cháu nghĩ  trong đời 1 người chỉ cần giúp được cho 1 người khác sáng mắt cũng là đáng quý và được mang ơn suốt đời.”
+ Thư của cháu Tươi viết tại Xuân Phương ngày 26/3/05: “Hiện nay, tại bệnh viện Bùi Chu đang tiến hành mổ mắt cho những bệnh nhân nghèo.  Họ được chữa miễn phí do tấm lòng hảo tâm và nhân đạo của chú.  Một số anh em, họ hàng của gia đình giáo viên cháu cũng như bà con quê ngoại cháu cũng được mổ miễn phí, ai cũng xúc động.”
+ I-meo của anh Kim Anh đề ngày 15/5/05: “Anh thực hiện một nghĩa cử cao đẹp, có thể nói anh là một Rip Vam Winkle VN.  Ai mà chẳng mến phục lòng lân tuất của một người sống cho đời như thế”
+ Thư  của chị Yêm viết tại Xuân Tiến ngày 17/7/05: “Chúa cùng đồng hành với chú trên con đường phục vụ tha nhân, ngay cả những lúc chú đau ốm.  Con đã đi thăm cụ Xia.  Bao năm cụ không thấy gì, nhưng từ khi được chữa mắt, cụ trông rõ ràng mọi vật.  Cụ nói: “Bác sĩ nói tôi phải tránh xa khói bếp trong 6 tuần!  Sống đơn độc, hàng ngày tôi phải tự nấu ăn bằng bếp rơm, trải qua nhiều ngày mà mắt vẫn tốt.  Tôi rất biết ơn những người đã bảo trợ cho tôi chữa mắt.”

Tám giờ sáng ngày 17/8/05, tại thư viện Bùi Đức Hậu, Hà Nội,  nhóm thiện nguyện Sơn Nam có cuộc họp để đúc kết công tác kiểm tra “Khơi nguồn ánh sáng”.
Mở đầu, tôi báo cáo: “ Như các bạn đã rõ, tôi yêu cầu 600 ca mổ mắt cho 2 huyện Xuân Trường và Giao Thủy; chỉ khi nào còn dư, mới dành cho các huyện khác trong tỉnh.  Khi về tới địa phương, sở Y Tế tỉnh tự ý phân chia cho Xuân Trường, Giao Thủy 200; số còn lại phân đồng đều cho 10 huyện khác, mỗi huyện 40.  Tính tới nay, số người đã được mổ mắt do bị đục thủy tinh thể tại huyện Xuân Trường là 115 gồm 25 xã, tại huyện Giao Thủy là 98 gồm 19 xã.  Tổng cộng là 213 ca.  Nhờ sự “tranh đấu” ráo riết của hội Đồng Hương Nam Định và nhóm thiện nguyện Sơn Nam, sở Y Tế Tỉnh hứa sẽ mổ thêm 183 ca nữa cho 2 huyện Xuân Trường và Giao Thủy trong đợt tháng 11/05 tới, cho đủ 400 ca.  Muốn tranh đấu nhiều hơn, cũng bằng không, vì cho tới nay, sở Y Tế mới được ủy ngân cho 400 ca mà thôi!  Hơn nữa, chúng ta không có trong tay bản hợp đồng ký kết giữa hội Người Nghèo thành phố HCM và sở Y Tế Nam Định, nên khó có thể yêu cầu Sở thực thi điều này, điều nọ.  Khi nào về Mỹ, tôi sẽ nhờ hội Giúp Người Mù Bắc Cali giúp giải quyết 200 ca tồn tại cho 10 huyện còn lại của tỉnh Nam Định.
Đàm cho biết: “Số người mù lòa tại 2 huyện thì nhiều, nhưng số lên viện ghi danh thì ít, có lẽ tại thiếu thông tin, thiếu giải thích; nhiều người sợ tốn tiền hoặc không có tiền, nên đành chịu cảnh mù lòa.”
Tôi thật sự lo ngại, nếu không có người ghi danh, Sở sẽ lấy cớ đó để chấm dứt chương trình KNAS.
  Nùng đề nghị: “ Nếu tới đầu tháng 11/05, số người ghi danh vẫn chưa đủ 183, chú sẽ cấp 200.000đ cho những ai gặp hoàn cảnh khó khăn nhất (không con cháu, không tiền bạc) để trang trải những chi phí đi, về, ăn uống, mượn người coi sóc, trong suốt thời gian 5 ngày điều trị tại bệnh viện”.
Mọi thành viên trong nhóm đều hoan nghênh giải pháp trên.  Vì hạnh phúc của những đồng bào kém may mắn, chúng tôi nguyện dấn thân trong những tháng tới để đạt chỉ tiêu 400 trước mắt.
Để kết thúc chương này, tôi muốn mượn câu nói dưới đây của đại sư Chantideva: “Tất cả niềm vui có trên đời đều do muốn an lành cho kẻ khác, và tất cả đau khổ trên đời này đều do muốn hạnh phúc cho mình”.
                                  
(Trích trong HK  III “Tạ ơn Trời, cảm ơn người” của Bùi Đức Hợp)