Cầu TRƯỜNG-TIỀN
(Hiện thực  và Tâm ảnh)



 TRẦN-SĨ-HUÂN

Trong Lá Thư Ái Hữu Công-Chánh số 81, trang 10, bà Phạm-Bạch-Vân, ở San Jose, California, Hoa-Kỳ. có đưa ra câu hỏi : Cầu Tràng-Tiền sáu vài mười hai nhịp, hay là sáu nhịp mười hai vài ? và đã được Ban Phụ-Trách trả lời sơ qua rồi. Tuy nhiên vì Ban Phụ Trách có yêu cầu ái-hữu nào đã từng sống và làm việc nhiều năm ở Huế thì xin bổ túc thêm, cho nên tôi viết bài này để góp một vài tài liệu mà tôi đã có dịp sưu tầm bấy lâu nay.
Trước hết, xin đinh chính tên cầu là Trường-Tiền chứ không phải Tràng-Tiền, còn vày cầu là khoảng cách giữa hai trụ cầu (bridge span) chứ không phải vài cầu là một hai cây cầu (some bridges).
Về phương diện kỹ-thuật, cầu Trường-Tiền dài 401m10, rộng 6m20, gồm có 2 móng và 5 trụ bằng béton, 12 đà cầu sắt hình cong (Parker Truss) sơn màu dụ bạc và 6 sàn cầu (slab) bằng béton cốt sắt . Như vậy mỗi vày cầu (span) có một sàn và 2 đà.

Cầu Trường-Tiền, ngoài tính chất thực dụng như các cầu khác, còn có dáng dấp mềm mại, uyển chuyển, thanh tú, hài hoà với dòng sông Hương êm đềm, thơ mộng và rất thích hợp với tâm hồn cuả người dân xứ Huế, do đó qua thời gian hơn một trăm năm, cầu Trường-Tiền vẫn làm cho người dân Huế liên tưỏng đến bóng dáng yêu-kiều với những tà aó dài tha thướt cuả các nữ sinh miền núi Ngự sông Hương. Họ đã nhìn cầu Trường-Tiền theo cảm nhận, chứ không phải nhìn dưới khía cạnh kỹ thuật và đã thi vị hoá mỗi cây đà sắt hình cong như một nhịp và xem sàn cầu như vày cầu cho nên mới có những câu hò bình dân, tuy không đúng thực tế nhưng vẫn đi sâu vào lòng dân tộc, như:

Cầu Trường-Tiền sáu vày mười hai nhịp,
Em đi không kịp, tội lắm anh ơi!
Thà rằng không biết thì thôi,
Chớ biết rồi (mà) mỗi đưá mỗi nơi cũng buồn...”

hoặc là:

Cầu Trường-Tiền sáu vày mười hai nhịp
Em đi không kịp tội lắm anh nờ...
Nghĩa tào-khang, ai đà sớm dứt,
Đêm nằm tấm tức, lụy ứa đầy gan...

Hai câu hò này bày tỏ nổi lòng của một thôn nữ kêu gọi người yêu đừng đi qua cầu theo giặc Pháp vì đây là cây cầu đầu tiên Pháp bắt qua sông Hương nối hai bờTả, Hữu ngạn. Có lẽ nguồn tình cảm miên man rất lãng-mạn kiểu Huế nằm trong tiếng cũng.  Cái cũng buồn rất e-dè nhưng cũng rất nũng-niụ của cô gái Huế có nghiã là níu kéo, là sẽ tương tư, là hào phóng một cách tình cho đi, ai lấy lại bao giờ. Với hai câu đầu, người nghe có cảm giác cầu Trường-Tiền dài mù-mịt và sông Hương cuồng-cuộn sóng dữ, nhưng thực tế cầu đã ngắn mà dòng sông lại hiền hòa thì tại làm sao đi không kịp?  Chẳng qua đây là một câu nói lẩy vì khi ngưòi tình đã đi qua cầu Trường-Tiền rồi thì kể như đã sang một vùng Trời Tây Đầm khác.
Ngược lại, có khi chàng cũng trách nàng :
     Đứng trên cầu Trường-Tiền, ngó xuống dưới cầu, nước xanh như tàu lá,
     Ngó về Đập-Đá, phố xá nọ nghinh ngang.
     Kể từ ngày Tây lại xứ ta,
     Em ham đồng xu, bạc giác, bỏ nghiã chàng bơ vơ...
     v.v...
Đối với những người có tâm hồn nghệ sĩ thì coi như họ đã mang cả cây cầu này vào lòng họ, một chiếc cầu trong tâm ảnh. Nếu ai đã từng đứng xa xa trên dòng sông Hương nhìn cầu Trường-Tiền soi bóng nước với một cây cầu hiện thực bên trên và một cây cầu ảo ảnh bên dưới như quyện vào nhau thành một hình ảnh đẹp tuyệt vời thì sẽ cảm nhận được ý nghĩa của câu hò sau đây:

Ngó xuống nước, sáu vày mười hai nhịp
Ngoảnh trên khô, sáu nhịp mười hai vày
Sông không sâu mà nước cứ chảy hoài.
Bỏ thì thương (mà) sương thì nặng...
(chớ) cứ nhớ hoài mầng răng ? !

Theo T.S. Trần-Kiêm-Đoàn ở Sacramento Trường-Tiền là chiếc cầu định mệnh cuả Huế. Tình yêu chưa bước song đôi qua cầu là tình yêu chưa chín (chưa trọn vẹn). Hận thù chưa giải quyết được trên cầu thì hận thù chưa nguôi. Uy vũ chưa tuyệt lộ trên cầu thì chưa phân thắng bại. Đến Huế mà chưa đứng trên cầuTrường-Tiền là chưa vô tới Huế, chỉ mới tạt qua Huế mà thôi…
Phải chăng vì thế mà từ ngày có mặt, tuy nằm yên một cõi, cầu Trường-Tiền đã mang những vết hằn lịch sử sâu nặng nhất cuả một xứ Huế thăng trầm theo thế sự. Phong cảnh trên cầu, ngày qua tháng lại, đã trở thành tâm ảnh trong lòng người lớn lên cùng với chiếc cầu, và khi một bóng dáng đã trở thành tâm ảnh thì sự hiện sinh cuả nó sẽ trở thành ảo ảnh...Cũng thế, những người xa Huế đã mang chiếc cầu trong tâm ảnh mà ra đi...
Gần đây tôi đã trở về Huế mấy lần, đi trên chiếc cầu xưa ấy mà vẫn quay quắt đi tìm... Tìm chiếc cầu trong tâm ảnh như ngày xưa...vì cầu mới, tuy được phục chế nhưng không làm theo dáng dấp cũ mà đã bị thay đổi khá nhiều : những chỗ nhô ra (balcon) để khách nhàn du có thể dừng lại phút chốc thưởng ngoạn cảnh trời trăng mây nước, đã bị cắt bỏ; thêm vào đó là tám ống sắt tròn gắn dọc theo hai đà cầu sắt làm cho cây cầu mất hết nét thanh tao!
Về mặt lịch-sử, theo tài liệu của GS Phan Thuận An ở Huế thì ở mục Kiều Lương cuả Thừa-Thiên Phủ trong bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí bằng chữ Hán, có ghi chép về chiếc cầu nổi tiếng này .Đây là một tài liệu gốc, lâu đời nhất, được phiên âm và dịch nghiã như sau:
Trường-Tiền thiết kiều
Tại kinh thành chi đông nam.
Kỳ bắc ngạn thuộc Hương Trà huyện, Phú Xuân tổng, Đệ nhất phường.
Kỳ nam ngạn thuộc Đệ bát phường.
Thành Thái cửu niên khởi biện.
 Kiều lục gian. Mỗi gian lục thập lục xích bát thốn ngũ phân, hoành lục xích nhị thốn. Thông trường tứ bách nhất xích thốn.Thập thất niên công đoạn. Thập lục niên bán nguyệt nhật, cụ phong phiêu trụy tứ gian, tồn nhị gian. Thành-Thái thập bát niên trùng tu.  (Quyển nhị, tờ 61a).
 Tạm dịch :
Cầu sắt Trường-Tiền.
Cầu toạ lạc tại phía đông nam cuả kinh thành. Bờ bắc thuộc đất phường đệ nhất, tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà. Bờ nam thuộc phường đệ bát. Cầu được bắt đầu xây dựng vào năm Thành-Thái thứ 9 (1897). Cầu có 6 vày .Mỗi vày dài 66m85, rộng 6m20. Toàn bộ chiếc cầu dài 401m10. Đến năm Thành-Thái thứ 11 (1899) thì cầu xây xong. Nhưng vào một ngày thuộc tháng 8 năm Thành-Thái thứ 16 (tức là tháng 9 năm 1904), gió bão thồi sập bốn vày, còn lại hai vày. Qua năm Thành-Thái thứ 18 (1906), cầu được trùng tu.
Như vậy cầu Trường-Tiền được xây từ năm 1887 đến năm 1899 mới xong, lúc đầu sàn cầu chỉ lót ván gỗ Lim với hai đà cầu bằng sắt hình cong, lề đường và lan-can ở bên trong hai đà cầu (hình 1). Sau vụ bão ngày mồng 2 tháng 8 năm Giáp-Thìn (tức là ngày 11-9-1904 dl.) cầu bị sập 4 vày và được trùng-tu vào năm 1906 với sàn cầu bằng béton cốt sắt. Năm 1937, cầu lại được sửa chửa, đưa hai lề cầu và hai dãy lan-can ra ngoài đà cầu, với 2 balcon ở mỗi trụ cầu để bộ hành có thể dừng chân ngắm cảnh (hình 2)… Năm 1946, đêm 19 tháng 12, trong cuộc tổng nổi dậy của dân ta chống Pháp, cầu đã bị giựt mìn sập 2 vày phía tả ngạn, cho đến năm 1953 mới tái-thiết như cũ. Đến năm Mậu-Thân (1968), cầu lại bị đặt mìn giựt sập một lần nữa và sau đó thì được bắt tạm một vày cầu gỗ để tái lập lưu thông, mãi cho đến năm 1995 mới phục chế với một vài sữa đổi (hình 3).

Trong hơn một thế-kỷ vừa qua, cầu này có đến bốn tên gọi khác nhau. Lúc đầu là cầu Thành-Thái (1889), kế đến là cầu Clemenceau (1918), tiếp theo là cầu Nguyễn Hoàng (1945), nhưng ba danh xưng trên đều ít được dùng, trái lại dân chúng xưa nay vẫn gọi là cầu Trường-Tiền, vì ngày xưa ở đầu cầu phía Tả ngạn có một xưởng đúc tiền cuả chính phủ ta. Dọc bờ sông Hương, còn có các bến đò mang tên Trường súng, Trường đồng, Trường đá,v.v...
Theo cố Giáo sư Phan-Văn-Dật, khi cầu hoàn thành, Hoà Thượng Phúc-Hậu chuà Thiên-Mụ đã nhiệt-liệt tán thưởng công-tác này như sau:

Nam mô Di Phật phước hà sa,
Cầu sắt ơn người tạo lập ra
Độ trận chúng sinh khi trái bước
Lỡ đường thiên hạ lúc băng qua.
Tài cao sánh với non Kim-Phụng
Đức trọng so tày bễ Tuý-Ba.
Lồng lộng giữa không trồng cỗi phúc
Ngàn năm để tiếng nước Nam ta.

Dưới triều vua Duy-Tân, muốn nhắc nhở luật đi đường cho khách qua cầu, sở Lục-Lộ (Công-Chánh) có treo ở hai đầu cầu tấm bảng đề hai câu chữ Hán như sau:
Xa mã quá kiều do hữu chí
Yếu nghi hoãn hoãn vật nghi trì
 nghiã là :
 Xe cộ qua cầu đi phía phải Nên đi chầm chậm chớ đi mau.
 Một tấm bảng khác viết bằng tiếng Pháp cũng được treo ở hai đầu cầu :
 Prenez votre droite. Marchez au pas (Đi bên phải. Bước chầm chậm). Tốc-độ tối đa pháp định qua cầu là 12km/giờ.
 Ngoài ra có một số bài thơ văn nhắc đến cầu Trường-Tiền như sau:
Ít lâu sau khi cầu được hoàn thành, Từ Dũ Hoàng Thái Hậu đã đích thân qua Tòa Khâm sứ Pháp yêu cầu chính quyền Bảo Hộ giảm thuế cho người dân, người Pháp đã trả lời rằng:

Ngày xưa Vua Việt cầm quyền
Cớ sao không bắc Trường-Tiền mà qua?
Trách Tây hay đánh thuế ra,
Cầu Trường-Tiền bắc, Tây không qua một mình!

Năm 1946, Việt Minh đánh Pháp, giựt sập cầu Trường Tiền, Cụ Ưng Bình ở Vĩ Dạ có làm 2 câu hò than tiếc sau đây :
Hỏi:
Cầu Trường-Tiền bấy nhiêu năm qua lại,
Kể từ đời Thành-Thái đến nay
Chạnh lòng biết nói ai đây
Việc chi nên nổi dang tay giựt cầu?
Đáp:
Lắm chuyện ly-kỳ, hỏi làm chi cho rối dạ,
Nhịp cầu nghiêng ngã, chưa lạ anh ơi !
Điện Cẩm-Thành họ cũng đốt họ chơi
Khói bay nghi ngút tận Trời anh thấy không ?
Tóm lại, đây là cái lô-gic và cái phi-lô-gic trong văn chương đầy tính sáng tạo và trong ngôn ngữ dân gian truyền khẩu. Cách diễn tả nào cũng đúng tùy theo vị trí thời gian và không gian, khi thì hiện thực, khi thì nhìn qua tâm ảnh chủ quan cuả mỗi người./.
TRẦN SĨ HUÂN



Cầu Trường Tiền qua nét vẽ của cụ Lê Sĩ Ngạc