Cuộc Đời  May Rũi
                        

TRẦN-SĨ-HUÂN


(Dưới đây là tự truyện của một công chức ngành Công-Chánh  từ 1954 đến1975 cuả chế độ Miền Nam Việt-Nam. Truyện được viết laị sau 40 năm xa xứ như một thơì để nhớ , nên có một vaì sự cố bị bỏ quên, vì lâu ngày lớn tuổi nên không nhớ hết.)                            



CHƯƠNG  I

SAIGÒN – ĐÀNẴNG

 

             Ngày 14-7-1954 là ngaỳ kỷ-niệm ra trường cuà lớp chúng tôi, Kỹ Sư Công Chánh khóa 2, kể từ ngaỳ thành lập sau năm 1945. Tình hình lúc đó rất là căng thẳng..

            Tuy nhiên lớp chúng tôi vẫn ra trường đúng ngày đã định.


           Cả thế giới lúc đó đêù đổ dồn nhìn về Việt-Nam qua trận chiến Điện-Biên-
Phủ và cuộc Hội-Đàm Pháp-Việt-Cộng vẫn gay cấn tiếp tục ở Thụy Sĩ (Geneve). Saigon tình hình chính trị thật là đen tối, chính phủ Việt Nam dưới quyền Quốc-Trưởng Bào-Đại đã mất uy-tín trước công luận vì lúc bấy giờ moị việc đều trong tay người Pháp. Ông Quốc-Trưởng đành tự ý lưu-vong sống ở tận bên trời Cannes (Pháp quốc). Cuôí cùng dươí áp lực cuá Mỹ và thỏa thuận cuả Pháp, Ông Bảo-Đại đã cử Ông Ngô-Đình-Diệm từ Mỹ về nước chấp chánh, giữ chức vụ Thủ-Tướng thay thế Ông Bưủ Lộc vào ngày 6-7-1954. 

          Trong hoàn cảnh đó, giơí sinh viên chúng tôi sắp ra trường rồi vẫn thấy tương lai mờ ám trước cửa ải động viên hăm he chờ sẵn. Để lấy lòng dân, Ban tham mưu của ông Diệm biết tâm lý ấy nên đã đề nghị ông Diệm bãi bỏ lịnh động viên .


          Tôi được Tổng Nha Công-Chánh tuyển dụng đưa đi tập sự taị Khu Bắc Công
Chánh Trung Phần ở Huế.

          Rời Saigon giữa muà hè oi bức, mưa rào nắng chói, trong không khí ngôt ngạt của thời cuộc đổi mới, tôi không khỏi bồi hồi nhớ laị những năm tháng vưà qua.


         Khoá học tôi bắt đầu từ tháng 10 năm 1949, nhưng chỉ mấy tháng sau, vào đầu năm 1950 thì xaỷ ra vụ biểu tình bãi khoá cuả học sinh Trường Petrus Ký, Saigon đòi trả tự do cho một số bạn bè bị Công-an bắt giữ, đưa đến caí chết cuả anh Trần-Văn  Ơn tại văn-phòng luật sư, trước dinh Thủ-Tướng Trần-Văn-Hữu, đường Gia-Long. Tiếp đến là cuộc đình công toàn diện có đến nửa triệu người cuả các giới sĩ nông công thương làm tê liệt cả Thành-Phố Saìgon-ChợLớn trong ngày đưa đám ma Trần-Văn-Ơn với sự hưởng ứng nồng nhiệt cuả giới trí-thức thời đó như Kỹ-Sư Lưu-Văn-Lang, Luật-sư Nguyễn-Hưũ-Thọ, v.v…Tình hình trở nên lộn xộn, các cuộc bắt bớ tiếp tục, sự học hành tạm thời bị gíán đoạn nhưng cũng may sau đó thì các trường trở lại sinh hoạt bình thường. Qua năm 1951, chính phủ lại ra lịnh động viên thì học sinh, sinh viên laị thêm một phen vất vã, từ những người sinh vào năm 1931 trở đi để vào học các trường sĩ quan trù bị Thủ Đức và Nam Định. Tôi được hoãn dich khóa I Thủ Đừc vì lý do học vấn, cứ saú tháng xét laị một lần, chờ ngaỳ ra trường sẽ trình diện nhập ngũ, nhưng khi tôi ra trường năm 1954 (Ông Ngô-Đinh-Diệm về nước) thì có lịnh bải bỏ động viên, cho nên tôi được đi Huế làm việc, khởi đầu sự nghiệp Công-Chánh.  <>

          Tôi đến Huế vaò đầu thu năm 1954, cư ngụ tại nhà cuả song thân tôi số 4 đường Mạc-Đĩnh-Chi, tục gọi là xóm Ô-Hồ. Về vị trí địa dư, xóm Ô-Hồ ở phía tả ngạn sông Hương trên một cồn đất lớn goị là Cồn Gia-Hội, thuộc phường Phú-Cát dài vào khoảng 500 thước. Nếu xóm Bến-Ngự, xóm Vĩ-Dạ là những nơi cư ngụ cuả thi nhân văn sĩ thuôc giòng giỏi Tùng-Thiên-Vương, Tuy-Lý-Vương, thì xóm Ô-Hồ chỉ là một xóm nghèo, dân cư đa số sống về các nghề lao-động, ngoại trừ một vài gia đình thuộc hàng ngũ quan lại như cụ Phủ Tôn-Thất-Tu hoặc công-chức như cụ Hường Dương- Đình-Hòe, ông Thị Vũ-Đức Thiệu, ông Phán Trần-Sĩ-Tiếu v.v…

          Vào khoảng giữa đường Mạc-Đĩnh-Chi, phía bên trái là Trường Tiểu-Học Gia Hội, phía bên mặt là một cái ao-hồ rộng độ 5 mẩu, xưa kia người ta trồng cây “Ấu” có trái hình góc nhọn nên gọi là “Ấu Hồ”, sau khi đọc trẹo lại thành Ô-Hồ. Trường Tiẻu-Học Gia-Hội là một cơ-sở rộng rãi, cao ráo, xây theo hình chữ U. Cổng trường xây cất theo lối kiến trúc xưa, có maí che lợp ngói đỏ gồm một cưả chính và hai cưả phụ hai bên rất uy nghi. Cổng naỳ bị phá huỷ từ năm 1952 vì thiếu tiền tu bổ, thật là đáng tiếc. Năm 1946, trường này được dùng làm Chợ Phiên triển lãm cho cả thành-phố Huế và năm 1948, dưới thời cụ Ưng Quả làm Giám Đốc Nha Học Chánh Trung phần, địa điểm này đựơc chọn làm trường thi Trung Học Đệ Nhất Cấp đầu tiên bằng tiếng Việt taị Huế.

          Bên cạnh trường Gia-Hội, ở phía dưới là đường hẽm lao động, nơi cư ngụ của đủ hạng thợ thầy như thợ mộc, thợ rèn, thợ sơn, thợ nề, thợ ống nước v.v…Ngoaì lực lượng thợ thuyền còn có một ngành bán hàng gánh như buổi sáng có bánh mì ổ, bún bò, đậu hủ, đậu phụng rang, chè đậu xanh, đậu ván, chè kê, lúc 12 giờ trưa có khoai lang, bánh nậm, bánh hỏi, phở Huể, bắp nấu Đò Cón, cháo gà, lúc 6 giờ chiều có cháo lòng, cháo vit của thím Viện, hột vịt lộn, chè đậu xanh v.v…Bên cạnh các hàng gánh còn có các quán mở rãi rác ở đầu xóm Ô-Hồ như bánh khoái, bún bò mụ Rớt, bánh canh mụ Lợi, chè đá ông Thân…Dọc theo đường Mạc-Đĩnh-Chi, phía bờ hồ có một chùa nhỏ tục gọi là chùa Thầy Trầu vì ông này ngoài việc tụng kinh gõ mõ còn coi bói theo lá trầu của người có công chuyện muốn xem thời vận. Thời đó nhu cầu cúng kiến cuả dân chúng nhiều đến nỗi xung qua Ô-Hồ còn có các chùa khác như chùa Thanh-Cao, chùa Phước-Điền, chùa Từ-Quang, chùa Ông và chùa Diệu-Đế và một số am miểu cúng thồ cô-hồn bạc mệnh mà người mê tín thường cho là rất linh thiêng. Ở cuôi xóm, trườc nhà của cụ Dương-Đình-Hòe, có một đường hẽm đầy nhà cửa lụp xụp của nhân dân lao-động nghèo nàn, trong đó có nhà của thi-sĩ Thanh-Tịnh, công chức sở Ngân-Khố Huế, người đã nổi tiếng trên thi đàn qua bao nhiêu baì thơ tình lãng mạn, phảng phất chất đấu tranh. Sau năm 1946, thi sĩ tập kết ra Bắc và ông nhà báo Phạm-Bá Nguyên đã đến ở đó xuất bàn tờ báo Công-Lý được it lâu thí bị đóng cửa. Đời sống ở xóm Ô-Hồ xem như không có gì thay đổi mấy măc dù dân số có đông hơn. Đó là điều may mắn trước tiên tôi được về thăm xứ Huế sau năm năm xa xứ học hành.

          Tôi ở nhà được mấy hôm thì đến ngày trình diện nhận việc ở Khu Bắc Công Chánh Trung Phần. Ông Trưởng Khu người Pháp tên là Henri Bono, sau khi hỏi thăm sơ qua vài câu xã giao, đã cử tôi làm Phụ tá Trưởng-Ty Quảng-Nam, trú sở đặt tại Đà Nẵng, cách Huế 100 cây số về phía Nam. Thế là tôi lại khăn gói lên đường …

<>          Tại Đà Nẵng, tôi được ông Nguyễn-Công-Tích mà người vợ là chị ruột ba tôi mới nhường một chỗ ngũ cho vợ chồng chúng tôi trong căn nhà nhỏ 10 căn của kho Long-Thọ, ở chung với nhân viên các cấp, thiếu mọi tiện nghi. Công việc được ông Trưởng-Ty Nguyễn-Ngọc-Tiếp giao phó là kiểm soát xe tự động và kiểm sóat điện lực, chả dính dáng gì đến 5 năm học vưà qua. Tôi không lấy gì làm thoải mái lắm nhưng là công chức, tôi ráng chịu đựng để thừa cơ học hỏi thêm những điều mới lạ ngoài đời. Được ít lúc sau, ông Trưởng Ty cấp cho tôi một căn nhà riêng bên cạnh căn nhà ông Nguyễn-Công-Tích để làm phương tiện riêng ăn ở. Đây là cái rũi đầu tiên tôi nhận lãnh trong lúc mới ra làm việc. Tôi tham gia Thanh Thương Hội cùng các anh Hà-Hoc-Lập,Đồng-Sỹ-Tụng v.v…hàng tuần họp hành ăn nhậu, thỉnh thoảng làm một vài công tác xã hội giúp đồng bào di cư, hoặc đăng đàn nói về một vấn đề chĩnh trang thành phố. Lúc đó ở Miền Trung, Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia (PTCMQG), một tổ chức thuộc ngoại vi cuả đảng Cần-Lao Nhân Vị, dưới sự chỉ đạo cuả ông Cố-Vấn Ngô-Đình-Cẩn đang công khai hoạt động, hậu thuẩn cho ông Ngô-Đình-Diệm. Đa số công chức đều ghi tên vô phong trào, có người thì vì lý tưởng như kỹ-sư Trương-Văn-Huế, có người chỉ muốn yên thân, ai sao mình vậy. Tôi ở trong số những người đó.

         Qua tháng 6 năm 1955, Khu Công-Chánh Huế cử tôi làm đại diện Công-Chánh tại Hội-An, thay thế ông Đinh-Gia-Bái hoán bổ làm Trưởng-Ty Công-Chánh Khánh-Hòa ở Nha Trang. Thị-trấn Hội-An là nơi đặt văn phòng Tòa Hành-Chánh Tỉnh Quảng-Nam và các cơ quan cấp Tỉnh, ngoại trừ Ty Công-Chánh thì văn phòng lại ở Đà-Nẵng vì lý do thiếu công ốc và vì phải tu bổ kịp thời Quốc-Lộ 1, từ đèo Hải-Vân ở phía Bắc đầu Tỉnh, Do đó ở Hội-An chỉ có Chi Công-Chánh phụ trách công tác Thị-Xã. Đây là dịp đầu tiên tôi lập một vài hồ sơ kỹ thuật sơ-sài, tu bổ Cầu Chùa, công ốc, công sở, sưả sang đường sá trong Thị-Xã. Trong thời gian ngắn ngủi không đầy sáu tháng ở Hội-An, có lần tôi được chỉ thị dựng một khán đài rộng lớn để đón Thủ-Tướng Diệm và phái đoàn chính phủ. Dịp này tôi gặp lại ông Trần-văn-Bạch, Bộ Trưởng Công-Chánh, cựu giáo sư và giám đốc Trường Công-Chánh. Thầy trò gặp nhau mừng rỡ, nhưng caí đinh cuả buổi lễ là việc chấp nhận 500 cán bộ Quốc Dân Đảng từ các vùng rừng núi Quảng-Nam về hợp tác với chính phủ. Tôi thấy Thủ Tướng gắn Đệ ngũ đẳng Bảo Quốc Huân Chương cho Thiếu Tá Tỉnh Trưởng Lê Khương và ông Nguyễn Chữ, Giám Đốc Công An Trung Phần. Tôi hơi ngạc nhiên vì ông Chữ với tôi từng ở trọ chung một nhà ở số 202 đường Boudonnet (tức là đường Lê Lai) Saigon trong suốt năm học 1951-1952, thế mà tôi chỉ biết ông Chữ qua một giáo viên Tư Thục, một Hoạ viên Công-Chánh, có sở trường về hướng đạo, chứ không biết gì về quá khứ hoạt động cách mạng cuả ông ấy. Sau naỳ mới rõ ông Chữ là một trong những người có mặt tại trụ sở Ôn-Như-Hầu, Hà Nội trong thời gian Quồc Dân Đảng chống đối Việt-Minh (1945-1946). Ông ấy bị Việt Minh bắt đem vào giam ở Quảng Ngãi, nhưng ông đã vượt ngục, lội ra biển theo thuyền đánh cá đi Đà Nẵng trốn thóat. Tuy nhiên sau một thời gian ngắn 500 cán bộ đã bị phân tán mõng, còn ông Nguyễn Chữ thì bị mất chức Giám Đốc. (Ngày 8-7-63 ông bị đưa ra Toà về tội can dự cuộc đảo chính 11-11-60. Năm 1965 ông Chữ bị ám sát ở chợ Tân Định Saì Gòn.)

         Trong lúc tôi đổi vào Hội-An thì vợ tôi có thai mà nhà cửa chỉ gồm có một căn phố làm văn phòng và nhà ở cuả Trưởng Chi nên vợ tôi phải ở laị nhà ba me tôi để nhờ chỉ vẽ lúc sanh con đầu lòng. Ngày 22-5-1955 tôi được điện tín vợ tôi sanh cháu trai, tôi liền xin nghỉ ba ngày sau đó để về nhà thăm. (Mới đó mà nay đã được 55 năm rồi !)

         Tôi ở Hội An 6 tháng thì được Khu Công-Chánh đổi về làm Trưởng-Ty Dụng Cụ Công-Chánh Đà-Nẵng thay thế Kỹ-Sư Euremberg người Pháp về hưu, để phụ trách tiếp thu một phần dụng cụ, xe cộ, cầu đà sắt cuả cơ quan Công-Chành Bắc Việt di cư vô Nam theo hiệp định Geneve. Ông Trương-Văn-Huế lúc này đã lên Trưởng Khu hết lòng giúp tôi và khuyên tôi tự học thêm về cơ-khí để tiến thân. Đăc biệt lúc này thì tôi được cấp một cái nhà riêng làm chỗ ở, đầy đủ tiện nghi, và đó cũng là cái may thứ hai mà tôi có được. Vợ tôi và cháu trai vào ở chung một chỗ, đến một buổi sáng người ở mới bồng cháu Chương ra khỏi nôi thì ầm một tiếng, cái trần nhà ở trên cái nôi sụp xuống, may mà cháu Chương đã bồng ra khỏi nôi rồi. Cháu Chương bị bịnh ghẽ lỡ đầy người chửa hoài không khỏi, may nhờ gặp Bác-sĩ Trần-Đình-Nam chửa thuốc thích hợp mới lành . (Bác-Sĩ Trần-Đình-Nam, Bộ Trưởng Nội Vụ, Chính Phủ Trần-Trọng-Kim,  mất năm 1973 mộ chôn tại Đà-Nẵng, cạnh núi Ngũ Hoành Sơn).

          Ty Công-Chánh Dụng Cụ có một văn phòng do ông Trần-Ngọc-Lan làm Trưởng Phòng, một Cơ-Xưởng và một Kho khà lớn để chứa xe và vật liệu cần thiệt do ông Trần-Hưng-Sỹ điều khiển. Xe ở các Ty bị hư đều đem về Ty Dụng Cụ sưả chửa.        

         Nguyên vào khoảng cuối năm 1955, ông Ngô-Đình-Diệm trong lúc chuẩn bị tổ chức Trưng cầu Dân ý, truất phế Quốc Trưởng Bào-Đại vào ngày 4-3-1956 thì một tu sĩ công-gíáo ở Huế vô Saigon nói vơí ông Diệm rằng ở ngoài Trung thiếu gạo ăn, dân sắp chết đói, vậy muốn dân bỏ phiếu thuận lợi thì xin chở gạo tiếp tế ra gấp. Ông Diệm bèn cho lịnh ông Trần-Văn-Mẹo, đương kiêm Bộ Trưởng Công-Chánh kiêm nhiệm Bộ Trưởng Kinh-Tế thi hành. Ông Mẹo chỉ định ông Ung-Bảo-Toàn, Giám Đốc Nha Dụng Cụ Bộ Công-Chánh là người tin cậy, lo vịệc đó. Chuyện xảy ra ở Saigon giữa ông Toàn và các thương gia thế nào thì tôi không biết, chỉ biết chuyện xảy ra ở Đà-Nẵng mà thôi. Trước hết tôi nhận công điện của Bộ Công-Chánh gởi ra nguyên văn như sau: “ Yêu cầu Kỹ sư Huân giúp đỡ ông Ung Bảo Toàn đưa gạọ đến hang cùng ngõ hẽm trước ngày 4-3-56. Ký tên: Trần-Văn-Mẹo “. Tôi chưa biết ông Toàn là ai nên khi đến phi trường Đà-Nẵng đón tiếp, tôi có nhờ nhân viên hàng không Việt-Nam dùng maý phóng thanh mời ông Toàn đến bàn giấy có người chờ. Sở dĩ như vậy là vì tôi mới ra làm Trưởng Ty, thường ngày chỉ tiếp xúc với Sở Dụng Cụ Gia-Định, Tổng Nha Kiều-Lộ mà thôi. Ngay chiều hôm ông Toàn đến Đà-Nẵng, tôi liền đưa ông ấy đến gặp ông Thị- Trưởng và ông Giám-Đốc Kinh-Tế Trung Phần nhưng không ông nào nhận tiếp tay với ông Toàn để bán số gạo cuả ông Toàn chở ra, viện cớ ngoài Trung này đủ gạo ăn rồi. Ông Toàn về tạm trú tại phòng trọ Ty Dụng Cụ rồi sáng mai đi một vòng Thị-Xã chụp hình cảnh dân chúng đông đúc chen chúc nhau mua gạo “các”, rồi đem lên Air Việt- Nam gởi phi công cầm tay đưa về ông Bộ Trưởng Công-Chánh trình lên ông Diệm. Khi gạo tới Đà-Nẵng, ông Toàn yêu cầu Tòa Thị-Chính giới thiệu cho một nhà thầu chuyên chở thì ông Châu-Văn-Chỉ, Tồng-Thư-Ký đã giới thiệu ông Nguyễn Thành có môn bài chuyên chở đồ cho USAID. Còn tôi thì ông Tòan giao cho nhiệm vụ:          

          - Phổ biến tin bán gạo theo giá chính thức 600$ một tạ cho các công sở và đoàn thể, chứ không bán riêng rẽ cho từng người.

          - Thâu tiền, phát biên lai.

          - Hằng ngày trước 4 giờ chiều đem tiền nạp cho Công Thương Ngân Hàng vào trương mục cuả ông Nguyễn-Văn-Mô, Tổng Thư Ký Bộ Kinh Tế.

          Ông Toàn đích thân đứng ngoài bến tàu nhận gạo và phát gạo cho các công sở hoặc đoàn thể nào có phiếu mua gạo do tôi giới thiệu. Ngoài ra ông Toàn còn trưng dụng xe camion-benne của Công-Chánh và một số toa xe lửa chở gạo đến Quảng Ngải, Huế, Quảng Trị.

          Tổng số tiền gạo tôi thâu được riêng tại Đà-Nẵng nạp cho Công-Thương Ngân Hàng là vào khoảng 40 triệu đồng.

          Vài tháng sau, một ông tu sĩ công giáo khác đi qua phà Trà-Khúc, Quảng Ngải, thấy lính bắt một thuyền Việt Cộng chở gạo, liền vào Saigon trình ông Diệm rằng ông Toàn đem gạo bán cho Việt Cộng. Thế là ông Diệm ra lịnh mở cuộc điều tra .

          Tại Đà-Nẵng, vào một chiều thứ bảy, tôi đang ở nhà thì lính mũ đỏ đến bắt đưa về Ty Hiến Binh khai baó. Tại Ty Hiến Binh tôi trình rõ sự việc và được trả về Ty Dụng Cụ để lấy giấy tờ chứng minh đầy đủ. Đến phòng Dự Thẩm ngay chiều hôm đó, tôi trả lời đã thi hành việc bán gạo theo lịnh Bộ Công-Chánh và trình công điện cuả Bộ ra, nhờ vậy tôi được thả về. Trong thời gian đó, tất cả thương gia nào dính dáng đến vụ mua gạo Bộ Kinh-Tế đều bị bắt đìều tra. Riêng ông Tòan thì than thân trách phận hẩm hiu, xem như là bị vắt chanh bỏ võ, vì thi hành lịnh thượng cấp má phaỉ bị tù đày nhục nhã. Trong một phiên Toà ở Đà-Nẵng, ông Ung-Bảo-Toàn xin Tòa cho xem cái bao đựng gạo tang chứng mà công an đã bắt được. Sau khi xem xét, ông Toàn trình Tòa rằng caí bao naỳ không có dấu hiệu gì ở ngoài tức là không phải cuả Bộ Kinh Tế vì bao gạo nào cuả Bộ Kinh Tế cũng có chữ EN, tức là Economie Nationale, còn cái bao tang chứng này là cuả địa phương. Kết qủa Tòa xử ông Tòan tử hình, sau được ông Diệm giảm xuống tù chung thân, đày đi Côn Đảo. Một số người khác thì bị án từ 1 đến 10 năm tù. Ông chủ hãng tàu chở gạo ngao ngán cho tình đời đã cạo đầu đi tu ở núi Thất-Sơn, Long Xuyên. Riêng tôi được thoát nạn mặc dù đã dính lìu từ đầu, âu cũng là cái may nên tai nạn qua khỏi.

          Theo nhận định cùa tôi trong vụ này, nếu ông Toàn đem gạo ra Đà-Nẵng mà bị địa phương từ chối tiếp nhận thì hãy trở về Saigon trình thượng cấp quyết định, chứ ở laị đương đầu làm chi để rồi mang họa vào mình, ở tù 7 năm cho đến ngày 1-11-63 mới được thả ra. Ngoài ra tại sao Bộ Kinh Tề dùng nhân viên và phương tiện Bộ Công Chánh bán gạo cho dân chúng mà lại không giao cho Nha Kinh Tế Trung Phần và các Ty Kinh Tế địa phương. Laị nữa, nếu nói ông Toàn bán gạo cho Việt Cộng thì chính quyền địa phương gồm đủ công an, cảnh sát làm gì mà để một mình ông Tòan từ Saigon ra có thể tung hoành giữa thanh thiên bạch nhật. Thật là khó hiểu. Tuy nhiên trong một chế độ dân chủ phôi thai, khi mà một đoàn thể công khai đứng sau lưng giựt dây cả ba ngành lập pháp, hành pháp vá tư pháp thì chả có gì mà khó hiểu cả.

          Sau khi Toà ra án xong xuôi, ông Trương-Văn-Huế, Trưởng Khu đã viết công văn khen ngợi tôi đã chu tất một công việc đa đoan, khó thực hiện.

          Đến ngày 26-11-56, vợ tôi lại sanh hạ thêm đuá con thứ hai, lần này thì là con gái nên chúng tôi đặt tên là Hoàng-Anh.

          Đến tháng 6 năm 1957, tôi được lịnh Khu Công-Chánh đổi ra Huế thay thế ông Phạm Nghị bị bán thân bất toại phải nghỉ việc.

          Như vậy sau 3 năm ra trường (1954-1957), tôi mới được về Huế làm Trưởng Ty Công-Chánh thực sự vào năm tôi 26 tuổi./.


TRẦN-SĨ-HUÂN