Chỉ số Thông Minh (IQ)  ở các nước Á Đông
Tâm Nguyên


Năm 1989, Philip Rushton, giáo sư tâm lý học của Đại học Western Ontario ở London (Canada), đã gây ra nhiều sóng gió trong dư luận nước này với lý thuyết cho rằng “người da vàng thông minh hơn người da trắng, và người da trắng thông minh hơn người da đen”. Đại cương, luận chứng của Rushton dựa trên các cơ sở mang ít nhiều tính khoa học sau đây:

1-    khám phá của khoa khảo cổ học cho rằng giống da đen xuất hiện trước tiên trên mặt đất từ hơn 230,000 năm (có nghĩa là những tín hữu Cơ đốc giáo nếu đồng ý với khám phá này thì phải chấp nhận rằng ông A-dong và bà E-va là người da đen), kế đến giống da trắng và cuối cùng son trẻ nhất là giống da vàng, chỉ mới xuất hiện cách đây khoảng  5 - 60,000 năm thôi.

2-    lý thuyết di truyền học cho rằng giống dân nào càng già cỗi thì trí thông minh càng giảm sút. (điều này có lẽ đã được dựa trên nhận xét: tuổi già thường ‘lú lẫn” hơn tuổi thanh niên.)
 
Đồng thời lý thuyết đó cũng dựa trên những đặc tính tâm lý, sinh lý, văn hóa, xã hội như sau:

1-    nền tảng gia đình của người Á đông bền vững hơn.
2-    người da vàng có đời sống tình dục hạn chế hơn.

Giáo sư Rushton sau đó bị các sinh viên da trắng (từ lâu tự cho là thông minh nhất) lẫn da đen (từ lâu mang mặc cảm thua kém về trí thông minh) phản đối dữ dội. Họ cho rằng vị giáo sư này đã đề xướng một lý thuyết kỳ thị màu da. Các sinh viên đó đòi Viện trưởng Viện Đại học Western Ontario bãi nhiệm P. Rushton. Đòi hỏi này không được thỏa mãn vì tôn trọng tính cách tự do của cơ chế đại học. Sau đó, các sinh viên này quyết định tẩy chay các lớp dạy của P. Rushton. Báo chí ở Toronto như tờ Star và tờ Sun cũng ồn ào chỉ trích vị giáo sư da trắng này.

Trong khi đó thì tiến sĩ Suzuki, nhà sinh vật học nổi tiếng người Canada gốc Nhật (chưa lai giống chút nào nên vẫn còn rõ nét da vàng, mũi tẹt), phụ trách mục hàng tuần về các vấn đề môi sinh trên tờ Toronto Star ngày thứ Bảy, thách thức GS Rushton tổ chức một cuộc tranh luận công khai để làm sáng tỏ vấn đề. Sau đó, vì sự chống đối sôi nổi, ồn ào của số đông dân Ontario (trắng và đen), chính quyền tỉnh bang đã có sự can thiệp nào đó để tránh xẩy ra một cuộc xô xát vì màu da. Kết quả là chẳng có cuộc tranh luận nên kẻ viết bài này không rõ lập luận của TS Suzuki như thế nào.

Tất nhiên mỗi bên đều cho luận chứng của mình là vững chắc hơn đối phương. Thực sự các lập luận đó có vững chắc không thì các nhà khảo cổ học, các nhà tâm lý, sinh lý ..cũng khó trả lời chính xác vì vấn đề thuộc lĩnh vực  khoa học nhân văn. Thôi thì mạnh ai nói nấy nghe. Không muốn nghe thì cứ tự do bịt tai để khỏi..bị hàng xóm làm phiền !

Dẫu sao, người Việt chúng ta cũng đã có câu tục ngữ: “ Bàn tay nào cũng có ngón dài, ngón ngắn ” cho nên chúng ta thường dễ dãi chấp nhận lập luận “ ba phải”: dân tộc nào cũng có người khôn kẻ dại.
Tuy nhiên, các nhà khoa học lại không chấp nhận lối suy nghĩ ‘ ba phải” đó. Họ đã sử dụng mọi phương tiện tân tiến nhất để mong đạt tới những kết luận mang tính khoa học càng cao, càng tốt. Người khó tính đôi chút có thể cho đó chỉ là một lối quy nạp . ..quý phái thôi. Hoặc với ngôn ngữ bình dân hơn thì gọi đó là ‘đoán già, đoán non”, cũng không phải là quá đáng. Đành vậy chớ sao, bởi vì đây là một vấn đề thuộc lĩnh vực nhân văn, đâu có thể đặt lên bàn toán để cộng trừ nhân chia được !

Trong chiều hướng đó, Daniel Seligan, Chủ bút kỳ cựu của tờ Fortune mới đây có viết bài nghiên cứu dài tựa đề: “ Chỉ số thông minh IQ và mức sản xuất quốc gia: người Mỹ có đủ thông minh không ? ” (IQ and National Productivity: Is American Smart Enough?). Bài viết nêu lên một số khám phá mới nhất về IQ trung bình Mỹ so sánh với Nhật bản và các dân tộc ven Thái Bình dương bao gồm Đại Hàn, Trung Hoa, Tân gia ba, Đài Loan mà ông gọi chung là sắc dân Mongoloids - gốc Mông cổ -

Các nhà tâm lý học nhìn nhận rằng những cuộc trắc nghiệm IQ trong thời gian qua ở nước Mỹ thiếu công bình đối với những sắc dân thiểu số, trong đó có người gốc Á châu định cư ở Mỹ chưa được bao lâu. Những người này khi bắt buộc phải làm cùng nhũng bài trắc nghiệm như người Mỹ gốc bản xứ, trong khi khả năng ngôn ngữ của họ chưa nhuần nhuyễn, chưa thấm sâu vào cốt tủy, đã làm cho kết quả sai lạc ít nhiều. Mặc dầu vậy, các nhà tâm lý học cũng như xã hội học vẫn thừa nhận các cuộc trắc nghiệm đã đem lại những kết luận rất bổ ích.

Hơn mọi yếu tố khác như kinh tế, xã hội.. những dữ kiện về IQ giải thích tại sao có nhiều người thành công vượt mức trong nấc thang xã hội trong khi những người khác không thành công. Cố nhiên cách giải thích trên đây là nguyên nhân chính đưa đến những hạn chế trong việc sử dụng các kết quả IQ. Một số người không chấp nhận cách giải thích máy móc đó. Người dân Mỹ bình thường mong con cái họ được nhồi nhét “tín điều” sau đây: “Các em có khả năng trở thành người theo ý các em muốn ”. Tín điều đó hẵn có sức mạnh làm khơi động ý thức tự lực của các trẻ em hơn là ỷ lại vào các khả năng thiên bẫm, có thể đưa đến thái độ tự cao, tự mãn. “Tín điều” này cũng rất được các sắc dân hải đảo hoan nghênh, bởi lẽ IQ của nhóm người này thường thấp hơn sắc dân da trắng đáng kể.

Hiện nay, các nhà tâm lượng học (hoặc tâm trắc học: psycho-metrician) chú trọng nghiên cứu nhiều hơn về IQ tập thể của những dân tộc khác nhau. Nhiều cuộc trắc nghiệm được thực hiện ở nhiều nước khác nhau để thâu thập chỉ số IQ quốc gia, tiến đến việc giải thích ở mức độ nào đó, vì sao một số nước tiến bộ nhanh, trong khi một số nước tiến bộ chậm.

Trường hợp các nước ĐÔNG Á

Kết quả trắc nghiệm IQ trong 15 năm qua ở Nhật và một số nước Đông Á ven Thái Bình Dương đưa đến kết luận rõ ràng là IQ trung bình của các sắc dân trên cao hơn IQ của người Mỹ.

Trong khi thực hiện trắc nghiệm IQ, các nhà nghiên cứu gặp khó khăn do ngôn ngữ khác nhau, do cách “ăn nói” của mỗi dân tộc khác nhau vì đặc tính văn hóa khác nhau. Những nhà nghiên cứu đã tìm cách vượt qua được những  trở ngại do khác biệt trên bằng nhiều cách thức. Chẳng hạn họ dùng hình ảnh thay vì ngôn ngữ để đo lường khả năng suy luận, hoặc dùng chữ Nhật hay chữ Hoa để dịch những câu trắc nghiệm chuẩn Wechler (một loại dành cho người lớn, ký hiệu WAIS; một loại dành cho trẻ em, ký hiệu WISC, thường áp dụng ở các nước Âu Mỹ).

Trong mọi trường hợp, kết quả trắc nghiệm chẳng những cho thấy sắc dân Đông Á có IQ trung bình cao hơn dân Mỹ, mà còn đưa ra nhiều nét đặc thù của sự thông minh: ở mỗi dạng IQ, người Á đông cũng như người Mỹ đều có những ưu và nhược điểm. Những khác biệt này không thể giải thích thuần túy bằng nhũng yếu tố xã hội hay văn hóa.

Người Á đông có khả năng trội hơn về Toán và Khoa học. Kết quả trắc nghiệm trên đây có thể giải thích một cách hợp lý câu hỏi từ lâu được đặt ra do những nhà hoạch định chính sách kinh tế quốc gia cũng như các doanh nhân Mỹ: “ Người Nhật làm ăn thế nào mà thành công như vậy ?”

Tất cả 5 quốc gia vùng ven Thái Bình dương gồm Nhật, Đại Hàn, Đài Loan, Hồng Kông và Tân Gia Ba đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế vượt bực và liên tục từ 30 năm nay. Không quốc gia nào trong số đó bị nạn suy thoái kinh tế đáng kể trong thời gian trên và tất cả đang cải thiện dần mức sống của người dân nước họ. Đa số các nhà bình luận kinh tế thường chỉ trông thấy con số thâm thủng mậu dịch to lớn mà Mỹ phải gánh chịu do mức xuất cảng ồ ạt của những nước trên. Nhiều doanh nhân khác không ngớt cho rằng nguyên nhân chính là do tài nguyên nhân lực rẻ mạt của các nước Đông Á.

Ngày nay có nhiều người quy trách tình trạng trên cho những trường học của Mỹ. Họ đặt câu hỏi vì sao trẻ em Nhật Bổn xuất sắc hơn trẻ em Mỹ ở nhiều lĩnh vực. Câu giải thích chuẩn hiện nay được tìm thấy trong quyển sách nhan đề: “ Thủ thắng trong cuộc chạy đua trí tuệ”  (Winning the brain race) của các tác giả David T. Kearns, Chủ tịch Công ty Xerox và Dennis P. Doyle,  thuộc viện nghiên cứu Hudson.

Sách này được Bộ trưởng Giáo Dục Mỹ thời đó (1989) là Lauro F. Cavazos nồng nhiệt ngợi khen. Câu giải thích chuẩn như sau:  “Học sinh Nhật vượt hơn Mỹ vì mỗi năm học sinh Nhật đi học 240 ngày trong khi học sinh Mỹ đến trường 180 ngày. Trung bình học sinh Nhật làm bài tập  ở nhà 2 giờ ruỡi một ngày hoặc nhiều hơn, trong khi học sinh Mỹ làm bài tập ở nhà mỗi ngày một giờ ít hơn. ”

Không nghi ngờ gì về hiệu quả rất cao của hệ thống giáo dục Nhật, tuy  nhiên yếu tố này không đủ để giải thích sự cách biệt khả năng của học sinh giữa các nước Đông và Tây.

Các quốc gia Á đông khác có  hệ thống giáo dục lỏng lẻo hơn Nhật rất nhiều và các trường học ở Hồng Kông hiện nay (1991) vẫn còn do người Anh quản trị. Thế mà thành quả học tập của học sinh các nước ven Thái Bình dương  đều đạt mức cao. Ở kỳ thi quốc tế về Toán và Khoa học mới đây dành cho các em học sinh lứa tuổi 13 của 9 dân tộc khác nhau, do cơ sở trắc nghiệm Giáo dục Mỹ tổ chức, kết quả như sau:

* về Toán: đoàn học sinh Đại Hàn (quốc gia Á đông duy nhất được chọn để trắc nghiệm) chiếm giải Nhất, đoàn học sinh Mỹ đứng hạng bét.

* về Khoa học: Đại Hàn chiếm giải Nhì (sau  đoàn học sinh tỉnh bang British Columbia, Canada). Đoàn học sinh của Mỹ đứng hạng 9, lại cũng .. bét.

Trong mọi trường hợp sự xuất sắc của học sinh Nhật không thể kết luận hoàn toàn là do giáo dục ở các trường. Bởi vì ngay ở các lớp Mẫu giáo, người ta cũng đã ghi nhận được kết quả như thế.

Trong tạp chí Science số tháng 2/86 GS Harold Stevenson thuộc viện ĐH Michigan đã cho phổ biến một phúc trình rất chi tiết về cuộc khảo sát các lớp Mẫu giáo. GS Stevenson đi đến nhận định: “Trẻ em Mỹ ngang với trẻ em Đài Loan về Toán nhưng thua xa trẻ em Nhật. Đến lớp 5, trẻ em ĐL đuổi kịp trẻ em Nhật, trong khi đó trẻ em Mỹ vẫn còn ở sau xa.”

Đông là Đông, Tây là Tây


Phúc trình đầu tiên về IQ của các dân tộc Á Đông xuất hiện vào cuối thập niên 70 đều do GS Richard Lynn viết. Ông là một nhà tâm lượng học người Anh, thuộc Viện ĐH Ulster ở Coleraine. Ông ghi nhận vào năm 1976 ở Nhật đã có nhiều bản trắc nghiệm WAIS và WISC. Trước đó khá lâu ông đã nhận được thường xuyên các phúc trình của các cộng sự viên ở Á đông gửi về viện ĐH Ulster. Mới đây nhất, ông nhận được những dữ kiện trắc nghiệm ở Hoa Lục.

Kết quả trắc nghiệm ở Hoa Lục thật đáng kinh ngạc. Dựa trên những trắc nghiệm đồ hình, các trẻ em Hoa Lục đạt IQ trung bình 101 so với 100 của Mỹ. Do những điều kiện kinh tế và xã hội khác biệt nhau, nên các nhà nghiên cứu đề nghị một số điểm tăng từ 30 đến 50 %. Trong hoàn cảnh sống vô cùng thấp kém như ở Hoa Lục hiện nay (1970 - 1980), điểm IQ vượt trội đó cũng đủ kết luận IQ của trẻ em Hoa Lục cao hơn trẻ em Mỹ khá nhiều. Và nếu một mai Hoa Lục dân chủ hóa các cơ chế chính trị song song với đổi mới về kinh tế thì tương lai của họ thật là rực rỡ.
                                
Đến đây, xin được phép bàn ngang một câu: Tài liệu không nhắc đến IQ của trẻ em Việt Nam.  Tuy nhiên, những thành tích khác nhau của trẻ em VN đạt được ở các nước trên khắp thế giới hiện nay có thể khẳng định VN sẽ tiến bộ rất nhanh hơn cả Hoa Lục vì VN có một lợi điểm lớn là có rất nhiều chuyên viên tài giỏi ở các nước tiền tiến trên khắp thế giới. Dĩ nhiên điều kiện tiên quyết là CSVN phải thực sự đổi mới về kinh tế lẫn chính trị, để thực thi Tự Do Dân Chủ đích thực, chứ không phải chỉ đổi mới về kinh tế mà thôi.

Phúc trình mới nhất của GS Lynn thực hiện ở Tân Gia Ba so sánh IQ của các trẻ em 13 tuổi giữa hai sắc dân Hoa và Mã Lai. Với trắc nghiệm đồ hình, các trẻ em người Hoa đạt IQ trung bình 110, trẻ em Mã Lai đạt 96 (cũng trong thang điểm này trẻ em Anh đạt trung bình 100).

Kết quả trắc nghiệm năm 1982 của GS Lynn với các trẻ em Hoa ở Hong kong như sau:
·    về khả  năng Lý luận: ở lứa tuổi 9, trẻ em người Hoa đạt 106.7 (cùng thang điểm này trẻ em Mỹ đạt trung bình 100).
·    một cuộc trắc nghiệm khác về khả năng nhớ tưởng và nhanh nhẹn trong diễn đạt, bằng cách kể tên các con vật mà các em biết càng nhiều càng tốt trong thời gian hạn định 2 phút, các trẻ em người Hoa đạt 109 điểm, thang điểm trung bình 100 dành cho trẻ em người Anh.

Trong phúc trình năm 1987, tựa đề “Trí Thông Minh của sắc dân Mongoloids: Lý Thuyết Tâm lượng (trắc), Tiến hóa và Thần kinh” (the Intelligence of the Mongoloids: a Psychometric, Evolutionary and Neurological Theory), GS Lynn vẫn cho rằng các sắc dân ven Thái Bình Dương nói chung, có IQ trung bình cao hơn dân Âu Mỹ. Tuy nhiên trong phúc trình này, ông ta chấp nhận một mức điều chỉnh kỹ thuật về sai biệt do điều kiện sống, từ 3 đến 4 điểm mà thôi (thay vì từ 30 đến 50 % như các nhà nghiên cứu khác đề nghị)

Ở đây, GS Lynn chú trọng đến những nét đặc thù của trí thông minh hơn là sai biệt IQ giữa các sắc dân Á đông và Âu Mỹ. Ông viết: “Sự vượt trội IQ của các sắc dân Mongoloids so với Caucasoids thiên về kỹ xảo (abilities) hơn là thông minh tổng quát.” GS Lynn đã dùng 3 cách trắc nghiệm IQ khác nhau:

1-    Trên hết là “chỉ số thông minh tổng quát” gọi tắt là “ g ” (general). Đây là nền tảng của trí thông minh, bao gồm các yếu tố tổng quát về trí lực như sự suy luận các vấn đề trừu tượng, khả năng hồi tưởng.
2-     Trắc nghiệm thứ hai gồm 2 phần: khả năng “ăn nói” (verbal) và “ hình tượng hóa” (visuopatial: đại khái trắc nghiệm này đánh giá người được trắc nghiệm qua việc họ nhận xét sự biến đổi của một hình sau khi quay trong không gian). Nhiều khả năng khác như Toán, Cơ khí, khoa học Kỹ thuật nói chung có liên hệ chặt chẽ với trắc nghiệm này.
3-    Trắc nghiệm thứ ba là một loạt câu hỏi, càng ngày càng được thêm vào nhiều hơn để xác định khả năng sơ đẳng của IQ, đại loại như nhớ lại một điệu nhạc, hoặc một dạng thức khác của trắc nghiệm 2 ở trên.

GS Lynn ghi nhận trong 3 loại trắc nghiệm trên đây, kết quả sơ khởi như sau:

·    Về chỉ số “ g ”: trẻ em Nhật vượt trội về thông minh tổng quát. Ít ra trẻ em Nhật cũng có điểm cao ở cấp 6 tuổi. Trước đó thì trẻ em Nhật có chỉ số “ g ” thấp hơn, có thể do sự trưởng thành chậm hơn sắc dân da trắng. Nhưng khi đã bắt kịp rồi thì chúng tiến nhanh. Ở lứa tuổi từ 10 đến 16, trẻ con Nhật có IQ bình quân 104 so với 100 của trẻ em da trắng ở Mỹ.

 Ở trắc nghiệm 2, có hai yếu tố:

1-    Về “ăn nói ”: 10 trẻ em Nhật thua Mỹ ở lưá tuổi dưới 6 nhưng đuổi kịp ở lứa tuổi 9 và 10 và dừng lại ở mức 100. GS Lynn cho rằng trẻ em Nhật kém về khoa “ăn nói” hơn trẻ em Mỹ. Tuy nhiên nhờ sự dạy dỗ đúng mức sau thời kỳ 9 tuổi, trẻ em Nhật đã có khả năng ăn nói ngang trẻ em Mỹ. Điều này chứng tỏ hệ thống giáo dục Nhật có hiệu quả rất cao.
2-    Về hình tượng hóa: trẻ em Nhật ở lứa tuổi 4 tuổi rưỡi đã vượt hơn trẻ em Mỹ. Cho đến lứa tuổi 9 đến 16, chúng đạt 105 điểm so với 100 điểm của trẻ em Mỹ.

·    Ở trắc nghiệm 3, trẻ em Nhật tương đối kém về “ăn nói”, biện thuyết song nhìn chung, lại xuất sắc về các trắc nghiệm Vẽ, nhận thức nhanh và hình tượng hóa. Đáng ngạc nhiên hơn là các trẻ em Nhật cũng có khả năng nhận biết về nhạc điệu tương đương với Mỹ.

     GS Lynn còn cho biết thêm: “ những đặc điểm trên cũng tìm thấy ở các sắc dân Mongoloids  khác trên nước Mỹ, và cũng tìm thấy trên các sắc dân vùng Á đông như Hongkong, Đài Loan và Tân Gia Ba”.

Ngoài những ghi nhận kể trên, ông còn đưa ra một vài nhận xét lý thú khác như sau:
-    sự các biệt giữa sắc dân Mongoloids và sắc dân Caucasoids tương tự như cách biệt giữa Nam và Nữ của dân Âu Mỹ. Ở Âu Mỹ, khả năng Tóan và Khoa học  của Nam cao hơn Nữ. Ngược lại, khả năng ăn nói của Nữ lại cao hơn Nam.
-    Phái Nam của Mỹ có khả năng hình tượng hóa tương đương với Nữ giới Á đông.

Đi Tìm Căn Nguyên


Do đâu có sự chênh lệch về mức độ thông minh giữa hai sắc dân Đông và Tây? Sự chênh lệch này xuất hiện từ hồi còn rất nhỏ, do đó không thể qui trách cho điều kiện môi sinh. GS Lynn tin rằng phần lớn do ảnh hưởng di truyền và đưa ra lời giải thích về sự tiến hóa trong trí tưởng.

Có thể tóm lược như sau: Khoảng 60 ngàn năm trước, vào thời kỳ băng giá của Bắc bán cầu, sắc dân Mongoloids phải đấu tranh sinh tồn cao độ. Miền Đông Bắc lúc đó là vùng lạnh nhất  trên quả địa cầu trong số những nơi có loài người sinh sống. Sự sinh tồn đòi hỏi giống dân này phải có tiến bộ nhiều về săn thú. Phúc trình năm 1987 của GS Lynn cho rằng giữa vùng tuyết trắng mênh mông đơn điệu đó, giống dân này phải phát triển cách nào đó để nhận hình các thú vật thật nhạy bén (chẳng hạn một chú thỏ trắng thoáng hiện giữa một vùng tuyết trắng). Họ còn phải đi xa để săn thú nên phải vận dụng trí nhớ các điểm chuẩn để khỏi lạc đường giữa mênh mông tuyết như thế. Từ đó GS Lynn cho rằng giống dân Mongoloids đã tạo được khả năng cao về nhận hình trong không gian, không sắc dân nào bì kịp.

Thế còn những nhược điểm về khoa “ăn nói” của sắc dân này thì sao? Điều này được giải thích như sau: “ Do nhiệm vụ của người đàn ông là săn bắn, nên người đàn bà phải ở nhà trông coi con cái, tất phải trò chuyện tâm tình với con. Từ đó người đàn ông phát triển khả năng nhìn trong không gian, còn đàn bà phát triển khả năng “ăn nói.”

Tiến xa hơn một bước nữa trong suy diễn, từ nhận định khả năng “ăn nói” thuộc chức năng của bán cầu não bên trái, Lynn  cho rằng trong số người thuộc sắc dân Mongoloids, vỏ não (cortex) ở bán cầu trái bị xâm chiếm bớt dần để chuyển hóa thành khả năng nhìn hình tượng hóa. Một số dữ kiện về thần kinh của các sắc dân Á đông hỗ trợ cho giả thuyết này, nhưng vấn đề đến đó chưa hẵn đã kết thúc.

Ngoài sự kiện đặc tính về “ăn nói” và hình tượng, hai sắc dân Mongoloids và Caucasoids còn có những nét đặc thù khác về IQ.

Kết quả trắc nghiệm của sắc dân này còn có những biến thiên khác nhau về điểm IQ. Những kết quả trắc nghiệm trong các giống dân Âu hay Mỹ cho thấy sự biến thiên rõ nét hơn so với kết quả trong các sắc dân Á châu. Do đặc tính thuần chủng cao của dân Nhật, kết quả trắc nghiệm cho thấy số người có IQ cực cao và số người có IQ cực thấp so với tổng số được trắc nghiệm không nhiều.

Mặt khác mức chênh lệch trung bình IQ của người Nhật hoặc các sắc dân Á đông khác chỉ có 13 điểm, trong khi mức chênh lệch bình quân đó là 15 điểm ở các sắc dân Âu Mỹ. (chênh lệch trung bình = sai biệt so với điểm IQ trung bình). Thực ra thì sự chênh lệch giữa hai sắc dân như thế là không đáng kể. Tuy nhiên sự chênh lệch ít đó, kết hợp với bình quân cao hơn sẽ là điều đáng chú ý. Có thể điều này làm sáng tỏ hơn ý kiến cho rằng khả năng lao động của dân Nhật cao hơn. Nói cách khác giới lao động Nhật ít có người IQ thấp, hoặc ngược lại, giới lao động ở Mỹ có nhiều IQ thấp.

Thực thế, ở Mỹ 25 % lao động có IQ dưới mức 90 so với 15 % ở Nhật. Những người có IQ dưới mức 80 điểm chiếm đến 10 % trong khi ở Nhật chỉ có 3 %. Đến đây, có thể thấy rõ hơn vì sao sản xuất của Nhật cao hơn các quốc gia Âu Mỹ.

Có điều đáng ngạc nhiên là các nhà kinh tế học lại tỏ ra hờ hủng với lời giải thích trên. Dầu cho giới này ngày càng quan tâm nhiều đến vấn đề vốn nhân lực, tuy nhiên họ cũng chỉ đo lường vốn đó qua giáo dục và huấn luyện mà thôi.

Trong tập sách rất xuất sắc, tựa đề “Trí thông minh và sự hoàn thành các mục tiêu quốc gia” (Intelligence and National Achievement) ấn hành năm 1983, bà Barbara Lerner, nhà Tâm lý học và Luật gia, một trong những người đầu tiên nói đến liên hệ giữa IQ và nên kinh tế quốc gia, phê phán các nhà kinh tế học đã bưng tai bịt mắt trước những kết quả trắc nghiệm IQ và những trắc nghiệm khác.

IQ và thành công ở đời

 Từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau, những nhà tâm lý học ứng dụng và những nhà xã hội học cùng đi tới kết luận: Người có chỉ số thông minh IQ cao thường có xu hướng thành công trên đường đời.

 Theo quan niệm thông thường của người Âu Mỹ hiện nay, người giàu có được xem là thông minh hơn người trung lưu và người trung lưu thông minh hơn người nghèo” (các trường hợp tham nhũng, buôn lậu, mua gian bán lận, trồng cỏ … làm ăn phi pháp, thì không kể)

Tất nhiên điều đó không có nghĩa là mọi người giàu đều thông minh hoặc ngược lại, mọi người nghèo đều kém thông minh, kể cả những người tự nguyện sống cuộc đời nghèo khó vì những mục đích cao cả và những người không muốn sống theo dòng đời đua chen, dành giựt mà cuộc sống chỉ là để phục vụ cho chủ nghĩa “đô la”. Biết bao nhà khoa học lừng danh, biết bao nhà tư tưởng cao thâm, những văn nghệ sĩ nổi tiếng tài ba… đã sống trong nghèo khó cùng cực. Giáo lý Cơ đốc  cho rằng: “ Người giàu có muốn vào nước Chúa còn khó hơn lạc đà chui qua lổ kim” cũng tương tự như ý nghĩa trong đạo Nho: “ Vi phú bất nhân, vi nhân bất phú” (nôm na: làm giàu thì bất nhân, làm việc nhân nghĩa thì không giàu)

Mặc dù vậy, những nhà tâm lý học Âu Mỹ vẫn thường đặt câu hỏi: phải chăng người giàu có thường thông minh hơn người nghèo ? Hoặc vì họ có nhiều lợi thế hơn ngay từ điểm khởi đầu ? Chẳng hạn được cha ông truyền lại cho một số tài sản, cùng với nhiều bí quyết kinh doanh hay uy tín của cơ sở làm ăn do tổ phụ để lại. Câu trả lời của họ là: kết quả đến từ hai hướng, nhờ khả năng bản thân cũng như nhờ các yếu tố di truyền.. Nhưng tự lực vẫn là yếu tố quyết định hơn. Lý do chính được những nhà tâm lý ứng dụng nêu lên là trong một xã hội xây dựng trên  nền tảng kinh tế thị trường, thường có những khoản tiền thưởng theo mức sản xuất. Từ đó họ kết luận kỷ năng là yếu tố có liên quan mật thiết với chỉ số thông minh IQ.

Kể ra kết luận này cũng khá gượng ép. Trong thực tế nhiều hãng trả lương rất cao so với các hãng khác. Đặc biệt những hãng có tổ chức nghiệp đòan thường đấu tranh cho quyền lợi của công nhân. (Ở đây chúng tôi không đề cập đến một số các hậu quả bất lợi khác của vấn đề nghiệp đòan). Được nhận vào làm việc ở các hãng đó, chẳng phải ai cũng xuất sắc. Tất nhiên có nhiều trường hợp do bạn bè, quen biết giới thiệu. Cũng có khi là một cơ may nào đó. Mặt khác cho thấy có nhiều người thành công sau một thời gian nào đó lại bị suy sụp. Ta phải kết luận thế nào về các trường hợp này ? Trong xã hội kinh tế thị trường, làm ăn ‘business’ cũng có khá nhiều bất trắc, lên xuống tùy thuộc vào các yếu tố bên ngoài khó dự đoán trước được.

Nói thì nói vậy, nhưng những nhà tâm lý học cùng sự cộng tác của những nhà xã hội học cũng đã có những nghiên cứu sâu sắc và những luận chứng mà họ cho là khoa học. Họ quả quyết rằng nếu lấy bất kỳ trẻ em nào đó trong lớp thiếu niên từ 13 đến 19 tuổi để làm trắc nghiệm, họ có thể dự đoán được tương lai thành công của cậu bé này nhiều hay ít do chỉ số IQ của cậu bé cao hay thấp. Tất nhiên họ không bắt buộc cậu bé sẽ khai “sơ yếu lý lịch” để biết rõ gốc gác của thành phần gia đình, nghề nghiệp hay vai vế của ông bà, cha mẹ cậu trong xã hội như thế nào.

Xin được nhắc lại ở đây một điều kiện rất căn bản là xã hội cậu bé đang sống phải là xã hội Tự do, theo kinh tế thị trường trong đó mọi người đều có cơ hội bình đẳng để phát huy đầy đủ khả năng của mình. Với những xã hội còn mang nặng ảnh hưởng phong kiến như Việt nam ta trước đây thì chắc các nhà nghiên cứu trên cũng thấy rõ nhận định đó không hẳn đúng, bởi vì tục ngữ ta có câu: “Con vua thì lại làm vua, làm con nhà chùa phải quét lá đa..” nói lên vai vế của cha ông quan trọng như thế nào đối với thế đứng của người con trong xã hội. Ngay các nước như Anh, Nhật, Thái Lan .. hiện vẫn còn mang đầu óc quân chủ, những Thái tử, Công nương..sang trọng giàu có đó chắc gì có được trí thông minh vượt trội hơn người dân thường, nếu họ được giáo dục trên cùng một cơ sở như trẻ em dân giả ??

Vậy thì xin trở lại với những nghiên cứu của các nhà khoa học, trong nhưng điều kiện đã nêu trên. Họ ghi nhận:
·    chỉ số IQ của thiếu niên và tình trạng nghề nghiệp sau này của trẻ em đó có trị số tương quan 0.65.
·    liên hệ giữa vai vế, nghề nghiệp của cha đứa trẻ vào thời kỳ trung niên (về sau, khi lớn lên) có trị số tương quan từ 0.35 đến 0.40 mà thôi.

Đó là nói về nam giới. Riêng đối với phái nữ thì liên hệ đó phức  tạp hơn nhiều. Trị số tương quan rất khó xác định nên các nhà nghiên cứu chưa đi đến kết luận được. Người ta đã tiến thêm một bước nữa tìm xem liên hệ giữa IQ và mức thu nhập. Văn phòng Thống kê Mỹ đã nghiên cứu một số lớn trường hợp vào năm 1964, đối với những người từ lớp tuổi 30 trở lên và ghi nhận rằng: cứ 15 điểm cách biệt về IQ dẫn tới sự cách biệt về thu nhập là 11 %.

Cuộc nghiên cứu trường hợp hai anh em Kalamazoo ở tiểu bang Michigan thường được các nhà khoa học nhân văn trưng dẫn. Hai anh em này còn giữ được các tài liệu học trình ở trường Trung học từ năm 1928. Xuất thân từ một gia đình, có một chế độ học vấn tương đương nhau, nhưng IQ khác nhau. Nói chung mức chênh lệch IQ của hai anh em này vào khoảng 11- 12 %. Những dữ kiện của hai anh em này cho thấy 15 % sai biệt về IQ ở lớp 6 được suy diễn bằng sự chênh lệch thu nhập 14 % khi ở vào lớp tuổi 35 đến 59.

Mặc dù nhiều nhà tâm lý học thừa nhận có những chức vụ cần uy tín lớn, được trả lương cao như quan Tòa, nhà nghiên cứu khoa học, giám đốc chấp hành các đại công ty, thường được chọn trong số những người có tài năng cao, trí óc minh mẫn cần qua thử nghiệm IQ là cần thiết.. Những nhà tâm lý học trên vẫn không cho rằng chỉ số IQ là cần thiết để tuyển dụng những người giữ chức vụ thông thường trong sinh hoạt hàng ngày. Một số không ít những nhà tâm lý học ứng dụng, những nhà xã hội học và những giám đốc các xí nghiệp lớn đều cho rằng tính chỉ số IQ là điều hay, nhưng không cần thiết lắm.

Điều cần biết  khi xem xét các đơn xin việc làm là ứng viên có thông thạo công việc cần tuyển không? Vậy chỉ cần xét kinh nghiệm, trường lớp đã được huấn luyện và quá trình học vấn của đương đơn là đủ. Nếu cần, có thể hỏi thêm một ít chi tiết về tâm lý như sự thật thà, động cơ thúc đẩy (motivation). Giới chủ nhân chẳng cần biết trí thông minh của người làm này cao hay thấp, miễn là họ lĩnh hội được những điều cần thiết để làm việc sau một thời gian nào đó.

Một ý kiến đối lập hẵn chủ trương sử dụng IQ vào việc đánh giá mức thành công ở đời, nằm trong quyển sách khá nổi tiếng của nhà xã hội học Randall Collins tựa đề “ Xã Hội Tin Cậy” (The Credential Society). Tác giả lập luận rằng bất cứ ai cũng có thể trở thành bác sĩ được. Ông đề nghị đào tạo bác sĩ bằng cách cho các thiếu niên vào làm việc thường nhật ở các bệnh viện và từ đó tiến thân dần trong nghề Y khoa.

Điều đáng ngạc nhiên là những lập luận này khá vững vàng. Tất nhiên nhiều chứng cớ  hiển nhiên cho thấy một số đòi hỏi chỉ số IQ ở mức độ nào đó, nhất là IQ loại “ g ” (thông minh tổng quát) hơn là đòi hỏi đơn thuần về kinh nghiệm hoặc học vấn. Trái lại một số công việc khác không đòi hỏi trí thông minh nhiều nhưng chỉ cần những đức tính như: sự siêng năng, kiên nhẫn và yêu thích công việc làm.

Hiện nay ở Mỹ, GS Gottfredson đã nghiên cứu và đưa ra một bản kê những nghề nghiệp đặc biệt với chỉ số IQ cần thiết. Bản kê được thiết lập dựa theo những dữ kiện của Sở Nhân Dụng Hoa Kỳ cùng với bản trắc nghiệm khả năng tổng quát. Mặc dù ở đây Sở Nhân Dụng đã tránh dùng danh từ trắc nghiệm IQ, song trên thực tế đó là một loại trắc nghiệm IQ.  Theo bản này thì:
-    Bác sĩ, kỹ sư: 114 điểm hoặc cao hơn
-    Giáo sư Trung học, buôn bán địa ốc: 108 - 134 điểm
-    Cứu hỏa, cảnh sát, thợ điện: 91 - 117 điểm
-    Lái xe tải, cắt thịt: 86 - 112 điểm
Theo bản này, mỗi ngành đòi hỏi phải có một chỉ số IQ nào đó với biên độ khá rộng rãi. Tuy vậy ứng viên của một số lớn chức vụ được tuyển dụng đã đạt IQ ở mức trung bình của bản trên.

Tại sao phải trắc nghiệm IQ ?

Nhiều lập luận vững chắc chứng minh rằng IQ tổng quát “ g ” rất cần thiết cho hiệu năng công việc. Những lập luận đó đều dựa trên 3 nguồn dữ kiện sau đây:

1-    dữ kiện được nhà Tâm lý học E. E. Ghiselli thuộc ĐH Cali ở Berkeley thu thập. Ông này đã bỏ ra hơn 25  năm (1949-73) để thu thập và phân tích các kết quả trắc nghiệm về khả năng công tác,
2-    dữ kiện từ 515 cuộc nghiên cứu được thực hiện trong nhiều năm do Sở Nhân Dụng Hoa Kỳ chủ trương,
3-    dữ kiện của quân đội Mỹ liên quan đến cố gắng không ngừng tìm loại binh sĩ nào thích hợp với nhiệm vụ nào.

Theo các nguồn dữ liệu trên, IQ khá tốt đẹp trong việc dự đoán khả năng thành công của các chức vụ phức tạp. Trắc nghiệm này cho thấy cũng khá hữu ích trong các loại công  việc tương đối ít chuyên môn. Viết trong tập san “ Yếu tính Hướng nghiệp” (Vocational Behavior) ấn hành vào tháng 12.1986, nhà tâm lý học chuyên trách về kỹ nghệ Frank Hunter ở tiểu bang Michigan cho biết có sự tương quan khá chặt chẻ giữa IQ và khả năng hoàn thành công tác.
·    với loại chức vụ phức tạp nhiều, trị số tương quan là 0.58 (trị số này được tính từ 0 đến 1)
·    với loại công việc thấp kém nhất, trị số tương quan là 0.23 vẫn còn được xem là khá cao và còn có thể  dùng được việc. Tất nhiên đối với một số công việc thấp kém thì trắc nghiệm IQ không hữu ích bằng trắc nghiệm động năng tâm lý (psychomotor ability).

Câu hỏi kế tiếp được đặt ra là: dự đoán trên có hiệu quả ra sao? và một câu hỏi khác: những ứng viên cho một loại chức vụ nào đó có khác nhau về kỹ năng nhiều đủ để chứng minh sự hữu ích cho một loại trắc nghiệm trước khi huấn luyện họ không ?

Nhiều thí nghiệm khác của Hunter và nhà tâm lý học chuyên về kỹ nghệ Frank L. Schmidt thuộc ĐH Iowa cho thấy sự khác biệt về khả năng hoàn thành công tác sẽ lớn nhất đối với những chức vụ phức tạp, nhưng chỉ ở mức độ vừa phải đối với những cấp khác.

Trong một nhóm việc được xếp loại ít phức tạp nhất (công nhân không chuyên môn hoặc bán chuyên) khoảng 1 % công nhân thuộc hạng xuất sắc có khả năng sản xuất nhanh vượt hơn 50 % sức sản xuất của hạng trung bình và gấp 3 lần sức sản xuất của 1% hạng công nhân kém nhất.

Với những việc có mức độ phức tạp trung bình như kỹ thuật viên, giám thị, 1 % thuộc hạng công nhân xuất sắc có khả năng sản xuất bằng 85 % của nhóm trung bình và bằng 12 lần nhiều hơn 1 % của nhóm thấp kém.

Trong những công việc phức tạp hơn nhiều, như quản đốc, kỹ thuật gia, công nhân chuyên nghiệp cao… 1% của hạng công nhân xuất sắc có khả năng sản xuất bằng 127 % hạng trung bình. Đối với 1 % công nhân kém nhất thì không có số liệu nào được nêu lên.

Những dữ kiện trên có nhiều lợi điểm khá rõ rệt và lớn lao về mặt tinh thần. Một trong những lợi điểm đó là hãng xưởng có thể biết được những công nhân xuất sắc để giúp họ cơ hội tiến thân và như thế có lợi cho sản xuất của hãng. Điều trên đưa tới sự nhìn nhận việc trắc nghiệm IQ tổng quát “g” là cần thiết cho mọi chức vụ dù mức độ phức tạp nhiều hay ít, và do đó đánh bạt ảnh hưởng của phái chủ trương “đối lập”.

Xét trên phương diện đạo đúc của vấn đề, những cá nhân xuất sắc nắm giữ nhũng chức vụ phức tạp cần được trả lương cao hơn những người khác. Hunter và Shmidt ước tính sản xuất tăng theo trị số IQ tổng quát “g” với tỷ lệ 2.5 lần nhiều hơn các chức vụ cao, so với chức vụ thấp.

Cuối cùng người Mỹ nêu câu hỏi: nền kinh tế của Hoa Kỳ sẽ được hửơng lợi nhiều hay ít (tính ra đô la) qua các cuộc trắc nghiệm này ?  

Để tìm lời giải đáp cho câu hỏi đó, đoàn nghiên cứu thuộc Sở Nhân Dụng do ông Hunter dẫn đầu sau nhiều năm vật lộn với nhiều dữ kiện khác nhau đã đi tới kết luận rằng tổng sản lượng của Mỹ sẽ tăng khoảng 80 tỷ mỹ kim (trị giá 1980). Ước tính này đã được Hội đồng Nghiên Cứu Quốc gia Mỹ cứu xét với nhiều phê phán. Hội đồng thừa nhận nhiều công ty tư nhân có thể hưởng lợi từ những trắc nghiệm IQ, tuy nhiên họ không đồng ý với quan niệm toàn bộ nước Mỹ sẽ được ích lợi nhiều đến mức đó.

Hội đồng này cho rằng nghĩ tới vấn đề kinh tế quốc gia nói chung là phải nghĩ đến việc toàn dụng nhân công. Hội đồng kết luận: “Áp dụng bản trắc nghiệm khả năng không làm tăng khả năng của lực lượng lao động nói chung”. Tuy nhiên, Hội đồng không quên đề cập đến vấn đề nhức nhối của nước Mỹ hiện nay là làm thế nào để đuổi kịp năng xuất của công nhân Nhật.

Ngày càng xuống dốc

Nếu chỉ số IQ của quốc gia được xem là  mức độ sản xuất của quốc gia đó thì sự kiện IQ tăng hay giảm là điều rất quan trọng. Như trên đã trình bày, các nhà tâm lượng học đã có nhiều ý

kiến trái nghịch nhau về chiều hướng tăng hay giảm của chỉ số IQ quốc gia.

Hãy bắt đầu với sự kiện hiển nhiên cho thấy IQ của nước Mỹ đang có xu hướng tuột dốc. Mặc dù có một ít sự phục hồi trong mấy năm qua, điểm trắc nghiệm trung bình về khả năng của học sinh vẫn còn thấp so với những năm cuối thập kỷ 1960. Có người cho rằng điểm khảo sát tụt xuống do bởi một số câu hỏi thuộc loại kiến thức căn bản được thêm vào, nhưng họ cũng đồng ý rằng sự sụt giảm còn do những suy đồi của nền giáo dục Mỹ. Và chẳng phải đa số học sinh trung bình bị tuột dốc mà thôi. Số liệu của Hội đồng Trung Học còn cho thấy tỷ số những học sinh xuất sắc cũng giảm đều. Năm 1990, tỷ số 7.4 % học sinh đạt 600 điểm về khả năng “ăn nói”, trong khi năm 1972 tỷ số đó là 11.3 %. Trắc nghệm khả năng học sinh có liên quan nhiều đến chỉ số IQ (trị số tương quan 0.8 %) nên có thể kết luận IQ quốc gia Mỹ đang giảm sút.

Kết quả trắc nghiệm từ những học sinh các trường sơ cấp lại càng đáng buồn hơn. Phúc trình mới nhất của Hội đồng Thẩm định Tiến bộ Giáo dục ghi nhận sự sút giảm đều đặn về khả năng suy nghĩ của học sinh trong thời gian lâu dài. Từ những dữ kiện trong hơn 20 năm qua của Hội đồng này, Sở Trắc Nghiệm Giáo dục đã đi tới kết luận trong năm vừa qua là: “ Những kết quả của Hội đồng Thẩm định Tiến bộ Giáo dục cho thấy có sự liên tục trong kết quả xuyên qua những sự việc cụ thể và kỹ năng, trong khi chứng tỏ các em còn kém khả năng lý luận và giải quyết vấn đề.”

Rất nhiều lý do giải thích sự tuột dốc này. Nào là thụ thai trong ống nghiệm, nào là sự suy đồi của giáo dục học đường. Một lý do khá vững chắc là sinh xuất của các sắc dân kém thông minh (tài liệu không nói rõ hơn, nhưng ai cũng có thể đoán là  những dân da đen, dân Nam Mỹ nhập cư…đều có sinh xuất cao ở Mỹ hơn sắc dân da trắng). Hiện nay rất nhiều người thừa nhận sự thông minh có đặc tính di truyền. Vài nhà khoa học cho rằng ảnh hưởng di truyền chiếm 50 % đến 70 %.

Tuy nhiên điều này đưa tới nghịch lý: chỉ số thông minh thực ra đang tăng dần. Nhiều dữ kiện cho thấy những năm gần đây, chỉ số IQ của trẻ em Mỹ cao hơn các thập kỷ 1930, 1940. Trắc nghiệm cho biết mỗi năm chỉ số IQ tăng độ 0.3 % hoặc 15 % trong 50 năm. Điều đó chứng tỏ thế hệ chúng ta thông minh hơn thế hệ cha ông. Đó là điều đáng mừng cho nước Mỹ, vì người Việt chúng ta có câu: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Sự cách biệt IQ giữa hai thế hệ như trên tương đương với cách biệt giữa người da trắng và người da đen ở Mỹ.

Việc chỉ số IQ gia tăng chẳng riêng gì ở nước Mỹ. Tại các nước đang mở mnag điều đó cũng được ghi nhận, mặc dù những trắc nghiệm được sử dụng thuộc nhiều loại khác nhau. Mặc khác chẳng phải chỉ ở trẻ em mới có sự gia tăng IQ mà thôi. Ở các nước Bỉ, Na Uy, Hòa Lan sự gia tăng IQ còn cao hơn trong các cuộc tuyển binh, trái với thế hệ trước đây. Điều đó chứng tỏ rằng bất chấp mọi sự, IQ trên thế giới tăng đều và vững chắc.

Những dữ kiện trên đây làm điên đầu các nhà nghiên cứu. Nếu chỉ số IQ được đều đặn gia tăng như thế, nhân loại ắt có nhiều nhân tài hơn, các trường Đại học sẽ có nhiều vĩ nhân, các trường Tiểu học sẽ có nhiều thần đồng hơn… Nhưng khốn thay, chúng ta lại có nhu cầu lớn hơn về các .. lớp tập đọc, và kết quả của các cuộc trắc nghiệm về khả năng ngày càng kém cõi hơn. Tại sao thế ??

Nhiều giả thuyết được nêu lên. James R. Flynn, nhà nghiên cứu nổi tiếng Tân tây lan, người từng gom góp và phổ biến nhiều tài liệu về những gia tăng IQ trên đây tin tuởng rằng những sự gia tăng chỉ số IQ như trên chứng tỏ trắc nghiệm IQ chẳng phải là sự đo lường đáng tin cậy về trí thông minh. Tuy nhiên, điều đó không làm cho các cuộc trắc nghiệm IQ mất hết tính chất dự đóan được tin cậy từ lâu nay. Điều này chứng tỏ trắc nghiệm IQ cũng khả dĩ nói lên được một điều, nếu không gọi là trí thông minh thì cũng là một dạng khả năng nào đó cần thiết cho các nước mở mang.

Một cách nhìn khác của vấn đề này cho rằng sai biệt IQ giữa thế hệ này với thế hệ kia chẳng có ý nghĩa gì; và rằng sự thông minh nhất thiết phải gắn liền với nền văn minh. Chẳng có nghĩa lý gì khi đem bài tập của thế hệ trước cho các trẻ em thập kỷ 1990 làm trắc nghiệm. Mỗi thế hệ phải có những điều học hỏi riêng biệt, những thách đố khác nhau và lý luận khác nhau. Giả dụ rằng Tổng thống Thomas Jefferson cho hóa phép được sống lại và được mời làm thử các trắc nghiệm WAIS thì chắc ông ta sẽ bị xem là thiếu thông minh. Điều này thật vô lý ! Nhà tâm lý học Charles Locurto ở Holly Cross cho rằng chỉ số IQ không thể áp dụng so sánh mức trưởng thành của cá nhân trong những lãnh vực khác nhau.

Richard Lynn có nhiều suy nghĩ về điểm này. Như trên đã nói, ông ta tin tưởng IQ ngày càng tăng là điều thực sự ghi nhận được và mức độ thông minh tăng dần cũng là thực tế. Bởi vậy ông tin rằng sự gia tăng thông minh đã bị che mờ bởi những suy đồi về giáo dục, hoặc có thể do học sinh thiếu sự kích thích để học hỏi. Ông ta còn tin rằng IQ tăng là nhờ điều kiện ăn uống được cải thiện. Phần lớn các nhà khoa học đều đồng ý điểm này.

Richard Hernstein thuộc ĐH Harvard thì cho rằng sự gia tăng IQ tập trung ở lớp dưới của giản đồ phân bố IQ đã làm nổi bật hai điều sau:
-    giáo dục quần chúng rộng lớn ở các  nước phát triển và
-    ngành truyền thông phát triển về mọi mặt. Chính điều này giúp cho trẻ em ngày nay có nhiều sự kích thích trí thông minh hơn bội phần thế hệ cha ông trước đây. Tuy nhiên sự kích thích đó không làm phát triển khả năng suy luận, bởi lẽ kết quả trắc nghiệm về mặt này của các em có chiều hướng đi xuống.

Chúng ta cần biết giả thuyết nào trên đây là đúng. Giả thuyết của Richard Lynn xem ra có vẻ hợp lý nhất. Tuy vậy trong các cách giải thích trên đây xem ra chẳng có lý do nào để tin tưởng chỉ số IQ của người Mỹ đang trên chiều hướng vượt trội hơn các dân tộc Á đông../
                                                                                                                            
  - Dựa theo tài liệu của Toronto Star và Sun -