Nỗi oan Tiên Điền
Tâm Nguyên

 (nhân  đọc “Tiếng Lòng Của Nguyễn Du” - tác giả Mai Hiền Lương)

Kỷ niệm 240 năm ngày sinh đại thi hào Nguyễn Du (1765-2005), xin mạo muội trình bày dưới đây một cố gắng mới trong việc khám phá tâm sự bí ẩn của Tiên Điền qua Truyện Kiều và các câu thơ được xem là những lời  "trăn trối" cuối cùng của nhà thơ thuộc hàng vĩ đại của cổ kim đông tây:

         “Cổ kim hận sự thiên nan vấn
            Phong vận kỳ oan ngã tự cư   
         Bất tri tam bách dư niên hậu,
        Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.”
                                        Tâm Nguyên 



Trong chức vụ Hữu Tham Tri Bộ Lễ (1), Tiên Điền Nguyễn Du nhận chiếu chỉ vua Minh Mạng đề cử làm Chánh Sứ Trung Hoa lần thứ hai. Chưa kịp lên đường thì Cụ ngã bệnh nặng và qua đời, thọ 56 tuổi. Hôm đó là ngày Mười (10) tháng Tám (8) năm Canh Thìn, Minh Mạng nguyên niên (1820).
Theo sách Đại Nam Chánh Biên Liệt Truyện, khi được tin Cụ mất, Vua Minh Mạng và các quan trong triều rất thương tiếc. Nhà Vua ban cho Cụ thụy hiệu là Trung Thanh và cấp nhiều lụa là, sáp ong để gia đình lo tang lễ. Với các quan đại thần, nhà Vua thổ lộ: 
“Nếu Nguyễn Du còn sống, Trẫm phải đặt vào ngôi Hiệp Biện.”
Còn Lễ Bộ Thượng Thư  Diễn Nhân Hầu, cấp trên trực tiếp của tiên sinh thì than:
     “ Thật khó tìm được người như thế mà cọng tác với nữa.”
             (Nguyễn Đăng Thục, Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du, Xuân Thu x.b.)   

Vẫn theo Liệt Truyện, sau khi Cụ qua đời, người ta tìm thấy trên bàn viết bài thơ “Độc Tiểu Thanh Ký”, ghi lại cảm tưởng của Cụ khi đọc quyển truyện Tàu kể sự tích nàng Tiểu Thanh họ Phùng, húy là Huyền Huyền, một cô gái còn rất trẻ, giỏi thi thư, thạo âm luật, sống dưới thời nhà Minh. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, Tiểu Thanh phải làm thiếp một người lớn tuổi cùng họ. Gặp người vợ cả ghen dữ quá- bà đốt tất cả các bài thơ nàng làm - nên nàng phải dọn ra riêng ở Tây Hồ. Có người khuyên nàng lấy chồng khác, nhưng nàng không nghe để rồi ôm mối sầu oán mà sinh bệnh, chết khi mới 18 tuổi.
Bài thơ thuộc thể thất ngôn bát cú, gồm tám câu bảy chữ, song chỉ bốn câu sau là thường được truyền tụng: (Nguyễn Đăng Thục, sách đã dẫn)
 “Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư   
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.”  
                     (Độc Tiểu Thanh Ký)

có nghĩa là:

 “Nỗi hờn oán xưa nay khó hỏi trời
Oan phong vận lạ lùng ta tự chuốc lấy
Chẳng biết ba trăm năm sau đây
Ở trên đời có ai buồn khóc Tố Như.”      
    Đặc biệt, hai câu cuối là thường được hậu thế nhắc nhở tới nhất và được xem là tiêu biểu tâm sự của nhà đại thi hào, mà thi sĩ Đằng Phương (cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy) trong bài thơ “ Tâm sự Tố Như” đã chuyển ra:
“Ba trăm năm nữa, người thiên hạ,
Biết có ai còn khóc Tố Như ?”
                (Nguyễn Văn Y, Thơ Vịnh Kiều, Lạc Việt 1979)

    Tiên Điền Nguyễn Du mất đi, ngoài tuyệt tác phẩm Kim Vân Kiều gồm 3254 câu thơ lục bát nổi tiếng, được phổ cập rộng rãi chẳng riêng ở trong nước - Truyện Kiều còn được dịch ra nhiều thứ tiếng phổ thông khác trên thế giới như Anh, Pháp ngữ- v.v.. – và một bài thơ dài và đặc sắc khác là “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh”, Cụ còn để lại cho đời hàng trăm bài thơ chữ Hán – đến nay đã sưu tầm được 249 bài – được tập trung trong ba tác phẩm:

1-     Thanh Hiên Thi Tập (78 bài): chia làm ba giai đoạn:
•    10 năm gió bụi (1786-1795), thời gian lẫn trốn ở Quỳnh Côi.
•    dưới chân núi Hồng (1796-1802)
•    làm quan ở Bắc Hà (1802-1804)
2-     Nam Trung Tạp Ngâm (39 bài), thời kỳ làm quan ở Quãng Bình và Huế
        (1804 1814) và,
3-     Bắc Hành Tạp Lục  (131 bài) trong  lúc đi sứ Trung Hoa (1813-1814)

(Chi Điền Hoàng Duy Từ - Nguyễn Du, Thơ Chữ Hán- Cali 1986)

Đặc biệt, trong số thơ chữ Hán của Cụ, có rất  nhiều bài chất chứa những tư tưởng đạo vị cao thâm, thoát tục như các bài Đạo Ý, Vọng Lam Giang, Đề Tam Thanh Động, Tạp Thi 1 và 2, Phân Kinh Thạch Đài v.v…
    Chúng ta sẽ khảo sát và tìm hiểu “tâm sự” của nhà đại thi hào này qua các bài thơ chữ Hán nói trên, căn cứ vào các bản dịch của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, nguyên Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa Saigon trước năm 1975, và của Chi Điền Hoàng Duy Từ   qua quyển Nguyễn Du, Thơ Chữ Hán - xuất bản ở Cali năm 1986.

NHỮNG CÁCH NHÌN KHÁC NHAU TRONG QUÁ KHỨ

Nhiều thế hệ văn học Việt Nam trong hơn một thế kỷ rưỡi qua, nhân khi bình giải Truyện Kiều, đã tìm hiểu tâm sự của nhà đại thi hào này qua hai câu thơ trong Độc Tiểu Thanh Ký trích dẫn trên đây. Hầu hết, nếu không nói là tất cả mọi người, đã kết luận:
“Nguyễn Du tiên sinh có tâm sự buồn sâu đậm nên mượn thơ văn để diễn tả lòng mình. Tâm sự đó là lòng hoài niệm nhà Lê trong khi bất đắc dĩ phải ra làm quan với triều Nguyễn Gia Long.”
    Kết luận trên được Bộ Quốc Gia Giáo Dục Miền Nam chấp nhận và cho đưa vào sách giáo khoa để dạy. Mọi người mặc nhiên thừa nhận. Các giáo sư Việt văn đều theo đó mà giảng dạy, học sinh thì theo đó mà học, xem như “khóa sổ”, không ai cảm thấy cần tìm tòi, thắc mắc gì nữa. 
   
Để có thể dễ dàng theo dõi và nắm bắt được những ý kiến khác nhau xung quanh Truyện Kiều, xin lược trình sau đây những cảm tác khác nhau từ những bài vịnh Kiều của những bậc vương giả - Vua Minh Mạng và Vua Tự Đức - cho đến những danh sĩ cuối thế kỷ 19, trong đó nổi bật nhất là Chu Mạnh Trinh, Phạm Quí Thích và Nguyễn Công Trứ. Tiếp đến là các cuộc tranh luận sôi nổi một dạo trên văn đàn đầu thế kỷ 20 ở khắp ba miền Trung-Nam-Bắc và sau cùng là những công trình nghiên cứu, phê bình văn học liên quan đến truyện Kiều trong giai đoạn đất nước bị phân chia, ở hai miền Nam Bắc Việt Nam.

1)    Danh nho Chu Mạnh Trinh với tâm hồn rạt rào của một nghệ sĩ, cảm thông trước nỗi khổ đau của một kỹ nữ đa tài đã xúc cảm chân tình qua bài đề tựa bằng chữ Hán cho bản in tác phẩm Truyện Kiều với bản dịch tuyệt vời theo thể phú của Đoàn Quỳ, trong đó có những đoạn rất thiết tha như sau:

“Giả sử ngay khi trước,
Liêu Dương cách trở, duyên chàng Kim đừng dở việc ma chay, quan lại công bằng;
án Viên ngoại bỏ ngay tình oan uổng,
Thì đâu đến nỗi son phấn mấy năm lưu lạc, đem thân cho thiên hạ mua cười, mà chắc biên thùy một cõi nghênh ngang, ai xui được anh hùng cởi giáp.
Thì sao tỏ được là người thục nữ mà đủ đường hiếu nghĩa, tay đờn bà mà lại có cơ quyền...
Than ôi! một bước phong trần mấy phen chìm nổi; trời tình mờ mịt, bể giận mênh mông. Sợi tơ mành theo gió đưa đi, cánh hoa rụng chọn gì đất sạch.
Ai dư nước mắt, khóc người đời xưa: thế mà giống đa tình luống những sầu chung, hạt lệ Tầm Dương chan chứa.
Lòng cảm cựu ai xui thương mướn, nghe câu ngọc thụ não nùng.
Cho hay, danh sĩ giai nhân cùng một kiếp hoa nghiêm nặng nợ.
Ngán nỗi non xanh đất đỏ, để riêng ai luân lạc đau lòng.

Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu.
Cái kiếp không hoa lẩm cẩm, con hồn xuân mộng bâng khuâng.
Đã toan đúc sẵn nhà vàng, chờ người quốc sắc, lại muốn mượn chùm phương thảo, hú vía thuyền quyên.. ..

2) Phạm Quí Thích trong bài đề từ bằng chữ Hán viết cho bản in truyện Kiều có các câu cảm tác hoa gấm văn chương, nhẹ nhàng nhưng rất đổi... vô thưởng vô phạt như sau:
‘ Giai nhân bất thị đáo Tiền đường
 Bán thế yên hoa trái vị thường....
... ... ...
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thùy thương! ”

Toàn bài tựa này đã được dịch ra tiếng Việt như sau:
“ Giọt nước Tiền đường chẳng rửa oan
Phong ba chưa trắng nợ hồng nhan
Lòng tơ còn vướng chàng Kim Trọng
Vẻ ngọc chưa phai chốn thủy quan
Nửa giấc đoạn trường tan gối điệp
Một dây bạc mệnh dứt cầm loan
Cho hay những kẻ tài tình lắm
Trời bắt làm gương để thế gian! ”

(Nguyễn Văn Y - sưu tập - Thơ Vịnh Kiều, Lạc Việt - 1973)

3) Trong khi đó, Nguyễn Công Trứ, chốt chặc trên cứ điểm hẹp hòi của quan niệm Nho giáo về chiều đã kết án nàng Kiều trong bài văn rất tài hoa nhưng cũng rất chua chát, đắng cay đến tội nghiệp cho con người đa tài mà bạc mệnh. Chúng ta hãy nghe cáo trạng khắt khe của Nguyễn Công Trứ - kể từ câu thứ năm trở đi:
“  Đã biết má hồng thời phận bạc,
Trách Kiều nhi chưa vẹn tấm lòng vàng,
Chiếc quạt thoa đành phụ nghĩa Kim lang,
Nặng vì hiếu, nhẹ vì tình thời cũng phải
Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải,
Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu,
Bây giờ Kiều còn hiếu vào đâu?
Mà bướm chán ong chường cho đến thế?
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa,
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm,
Bán mình trong bấy nhiêu năm,
Đố đem chữ Hiếu mà lầm được ai!
Nghĩ đời mà ngán cho đời. ”õ

4) Đến cả Vua Minh Mạng, một vị Vua nghiêm khắc nổi tiếng của triều đại nhà Nguyễn mà cũng đã sinh tình trước con người tài hoa bạc mệnh, để lại một bài phú dài bằng chữ Hán, trong đó có những câu thương cảm cho số phận xót xa của nàng Kiều, đã được dịch ra quốc ngữ là:
.. . . .
“õ Người thương về chí, cho là đạo hiếu trung,
Kẻ xét về tâm, bảo là kiên trinh tiết liệt,
Giữ mình trong sạch, tỉ như Tô Vũ ăn tuyết qua ngày,
Lánh bước tai nàn, so với Ngũ Viên thổi tiêu độ nhật,
Buổi trước bên đường nuốt lệ, thương tình đó cũng bởi tiền oan,
Hồi sau hết kiếp Tiền Đường, nghiệp chướng đây cũng là nghĩa khí.. . ..

5) Vị đế vương khác là Vua Tự Đức, mặc dầu lên ngôi trong giai đoạn lịch sử cực kỳ rối rắm trước áp lực xâm lăng nặng nề của Pháp, cũng đã có bài tổng vịnh khá dài về Đoạn Trường Tân Thanh trong khi nhà Vua du thuyền trên sông Hương. Bài tổng vịnh này được nhà nho Tô Nam Nguyễn Đình Diệm dịch ra chữ quốc ngữ, mở đầu với các câu:
....”õ Trên sông Hương tháng Ba một buổi
Truyện Thanh Tâm ngồi rỗi ngâm nga
Truyện này Thánh Thán soạn ra (?)
Diễn thơ lục bát nước ta Tiên Điền. . .
   
và các câu cuối cùng dưới đây được xem là những xúc cảm chân thành nhất xuất phát từ một cái nhìn khoan dung, trung hậu của nhà Vua đối với nàng Kiều, được xem là một kỳ nữ đáng thương hơn là đáng trách:
”...Tới nay án đó vẫn còn,
Ngâm lên một khúc lệ tuôn nghẹn ngào,
Xưa nay những anh hào kiệt sĩ
Gánh cương thường luân lý trên vai,
Cùng thông hơn thiệt chẳng nài.. . ”

(Nguyễn Văn Y - sưu tập - Thơ Vịnh Kiều, Lạc Việt - 1973)

6)  Sau đây, không thể không nhắc lại cuộc tranh luận sôi nổi kéo dài xung quanh đề tài Truyện Kiều đã xãy ra vào khoảng các năm từ 1924 đến 1932 giữa các tờ báo nổi tiếng thời đó, như Nam Phong Tạp Chí do học giả Phạm Quỳnh làm chủ bút một bên, và bên kia là các tạp chí do những nhà nho yêu nước từng bị Pháp bắt tù đày từ Côn Đảo trở về, như tờ Hữu Thanh của Ngô Đức Kế (Hà Nội), tờ Phụ Nữ Tân Văn của Phan Khôi (Saigon) và tờ Tiếng Dân của Huỳnh Thúc Kháng (Huế).
Về phía tờ Nam Phong, ngoài học giả Phạm Quỳnh, còn có sự cộng tác của các   nhà biên khảo, các nhà văn, nhà thơ tên tuổi như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam và các văn nghệ sĩ thuộc lớp trẻ hơn như Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh v.v …Nhóm này ca ngợi, tán dương Truyện Kiều về văn chương cũng như về luân lý. Nàng Kiều đã được khen vì hiếu mà quên tình khi quyết định bán mình chuộc cha, đã vì lợi ích quốc gia muốn tránh cho dân tộc khỏi nạn đao binh mà quên tình nghĩa riêng tư khi khuyên Từ Hải ra hàng. Đặc biệt học giả Phạm Quỳnh đã tán dương Truyện Kiều, coi Truyện Kiều là Thánh Thư, là Phúc Âm của dân tộc Việt Nam, và đề cao Nguyễn Du tiên sinh là vị Thánh và chủ trương đem Truyện Kiều vào dạy cho học sinh ở các lớp trung học. Trong khi đó học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã có câu nói để đời, cho rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn…”

    Ngược lại, các nhà nho yêu nước thì cho rằng Truyện Kiều chỉ là một loại tiểu thuyết bằng thơ ủy mị  mang các đặc tính “ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi”.  Tuy không chối bỏ giá trị văn chương của Truyện Kiều, song họ cực lực phản đối việc đề cao sùng bái Truyện Kiều, bởi điểm mà họ cho rằng tính cách phi luân lý của truyện. Cụ Nghè Ngô Đức Kế đã phê phán nàng Kiều “đêm thanh người vắng, trèo tường trổ ngõ” tự mình tìm đến với Kim Trọng. (Nguyễn Văn Trung, Vụ Án Truyện Kiều)

Hãy gạt ra một bên các ý đồ chánh trị trong việc đề cao hay bài bác Truyện Kiều của một số cá nhân mỗi phía - như Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế và các nhà nho yêu nước- tất cả các học giả, các nhà báo, nhà văn, nhà thơ nói trên hầu như đồng tình với quan điểm cho rằng tâm sự Tố Như tiên sinh trước sau vẫn là “tâm sự hoài Lê”. Sự kiện trên được minh chứng qua hình ảnh nàng Kiều, dầu 15 năm lưu lạc ở chốn lầu xanh, lòng vẫn tưởng nhớ người tình năm xưa là Kim Trọng.  Ngoài ra, các học giả trên còn dựa vào câu nói của Từ Hải “hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu” (Truyện Kiều, c. 2466) để hậu thuẩn cho lập trường của mình.

7)  Sau thời kỳ văn học sinh động đó, mà công lớn nhờ ở  tài ba nổi bật và sự uyên bác của học giả Phạm Quỳnh qua Nam Phong Tạp Chí, nước nhà bước vào giai đoạn chiến tranh ly loạn (1945-1954). Kế đó tổ quốc bị chia cắt thành hai miền đấu tranh nhau quyết liệt trên mọi mặt trận: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa… Mặc dù vậy, ở cả trên hai miền đất nước, vẫn có một số nhà nghiên cứu văn học, sử học đã tiếp tục tìm hiểu về Truyện Kiều, về Nguyễn Du và tâm sự của nhà đại thi hào này.

7.1) Ở miền Nam, Gs. Thanh Lãng, thuộc Đại Học Văn Khoa Saigon, trong bài diễn thuyết nhân 200 năm ngày sinh nhật của Nguyễn Du, cho rằng: “..Nguyễn Du như một huyền thoại - thơ văn chữ Hán của Nguyễn Du như là chứng nhân sự phản ảnh cuộc thực hiện “kỳ quái” của ông trong Đoạn Trường Tân Thanh…” (Nguyễn Văn Trung, sách đã dẫn)
Theo Thanh Lãng, văn thơ chữ Hán của Nguyễn Du “..không thấy chỗ nào ghét nhà Nguyễn, thương nhớ nhà Lê..”

    7.2) Đồng thời Nguyễn Trọng Khanh và Phan Khoang, dựa vào lịch sử, cho rằng gia đình họ Nguyễn Tiên Điền nếu có hoài, thì “hoài Trịnh chứ không hoài Lê”. Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm, thân sinh của Tố Như đã vì Chúa Trịnh mà cầm quân diệt phong trào Lê Duy Mật, một phong trào chủ trương phù Lê diệt Trịnh. Anh ruột của Nguyễn Du là Nguyễn Khản, thân tín của Chúa Trịnh, làm đến chức Tham Tụng (Tể Tướng). Mặt khác, các anh em của Tố Như sau này cũng có hai người là Nguyễn Thảng và Nguyễn Sóc ra làm quan với vua Gia Long và, trong khi Nguyễn Du làm quan ở Quảng Bình, đã trị dân có “chính tích” nên sau đó Cụ được thăng quan nhanh chóng. Những điều đó chứng tỏ Nguyễn Du không miễn cưỡng khi làm quan với triều Nguyễn. Tóm lại, theo hai nhà nghiên cứu trên, không có tâm sự hoài Lê gì trong văn thơ của tiên sinh. (Nguyễn Văn Trung, sđd)

    7.3) Ngoài ra, Gs. Nguyễn Văn Trung thuộc Đại Học Văn Khoa Saigon, trong buổi thuyết trình sáng Chủ Nhật 6-10-1962 ở trường Quốc Gia Âm Nhạc với đề tài: “Văn Học Và Chánh Trị, Một Quan Điểm Mới Về Cuộc Tranh Luận Phạm Quỳnh - Ngô Đức Kế Qua Truyện Kiều” đã kết án học giả Phạm Quỳnh có ý đồ chánh trị mờ ám phục vụ cho văn hóa của thực dân Pháp (?!) khi đề cao Nguyễn Du và Truyện Kiều. Sau đó, dậy lên một loạt bài góp ý, tham luận của bốn phương độc giả trên các báo ở Saigon - mà đa số ý kiến phản đối Gs. Trung. Về sau, toàn bộ tham luận này được Gs. Trung tập hợp lại trong quyển “Vụ Án Truyện Kiều”, hiện được nhà sách Xuân Thu tái bản ở hải ngoại. (Nguyễn Văn Trung, sđd)
    7.4) Ở miền Bắc lúc đó, theo Gs. Trung cũng đã có một ít bài nghiên cứu về Truyện Kiều đăng trong bộ Lược Thảo Văn Học Tập III (Hà Nội 1957) do nhóm Lê Quí Đôn - vào lúc đó có quan niệm phi chính trị - chủ trương. Ngoài ra, cũng có vài bài của các “cán bộ văn học” đăng rải rác trong tờ Nghiên Cứu Văn Học, mà phần lớn nhằm biện minh cho hành động sát hại dã man học giả Phạm Quỳnh trong năm 1945 của Việt Minh (tiền thân của Việt Cộng), sau khi họ dành được chánh quyền ở Huế. 

8) Ngoài những quan điểm của các bậc đế vương hoặc danh nho, sĩ phu đã nêu trên, để cho đầy đủ hơn thiết nghĩ không thể bỏ qua một nhà phê bình văn học nổi tiếng khác trong thời kỳ 1930-1945, với quan điểm thiên nặng lý thuyết Mác-xít: đó là Nguyễn Bách Khoa (một bút hiệu khác của Trương Tửu - thuộc nhóm Đệ tứ quốc tế). Nguyễn Bách Khoa đã ra sức áp dụng các khám phá mới mẻ về phân tâm học của Freud cùng những luận cứ mang tính duy vật biện chứng để tìm hiểu tâm lý nàng Kiều qua Đoạn Trường Tân Thanh. Với cách nhìn mới mẻ này, ông cho rằng những bước đoạn trường mà nàng Kiều phải đi qua, chỉ là sự phóng hiện của một thứ ẩn ức sinh lý của người con gái đến tuổi dậy thì, bị hàng rào nho giáo khe khắt cấm cố trong một thứ.. “ũthâm nghiêm kín cỗng cao tường..”õ nên mong muốn bung ra để thỏa mãn, hoặc nói cho đúng hơn, để giải tỏa những nỗi niềm, những ẩn ức sâu kín đó...

9) Về sau, những nhà biên khảo Miền Bắc đã cúc cung thi hành chỉ thị của Đảng, ra sức tìm kiếm trong Truyện Kiều những khía cạnh mâu thuẫn trong xã hội phong kiến, những cảnh nha lại hà hiếp dân đen để tố cáo xã hội dưới thời kỳ phong kiến, đế quốc... là đầy rẫy những thối nát, xấu xa so với chế độ xã hội chủ nghĩa, nhằm tạo nên căm thù sâu sắc trong mục tiêu đãu tranh giai cấp. Những luận cứ như trên được lồng vào giáo trình của các lớp trung học rõ ràng nặng mục đích chính trị hơn là mục đích văn học.

Trên đây,  có thể xem là tiêu biểu cho những nỗ lực của các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, khảo luận văn học trong mong muốn tìm hiểu những gì liên quan đến Nguyễn Du, đến Truyện Kiều, đến tâm sự Tố Như… đã xảy ra trong nhiều thập kỷ trước đây ở trong nước.

ĐẾN “TIẾNG LÒNG CỦA NGUYỄN DU”

    Giữa lúc người Việt ly hương trên khắp thế giới đang lo ‘kéo cày’ trả nợ ngân hàng, nợ nhà, nợ xe v.v.. thì ở Toronto, Canada, xuất hiện quyển khảo luận về Truyện Kiều của Mai Hiền Lương mang tựa đề “Tiếng Lòng Của Nguyễn Du”. Tác giả Mai Hiền Lương mở đầu tập khảo luận đã mượn câu thơ của Nguyễn Du trong đoạn kết Truyện Kiều: “Mua vui cũng được một vài trống canh”, ngụ ý khảo luận chỉ có tính cách “mua vui” trong những lúc trà dư  tữu hậu.
    Mặc dầu thế, tập khảo luận trên không khỏi khơi dậy trong tôi một loạt “nghi tình” về những gì đã được hầu hết mọi người chấp nhận là tâm sự của Tố Như tiên sinh. Tác giả đã dùng những luận chứng độc đáo và sắc bén, kết hợp với những hiểu biết uyên thâm của mình về đạo Phật cùng với những trích dẫn tài liệu khá công phu để chứng minh qua hơn hai mươi luận giải rằng Truyện Kiều là một bài kệ dài 3254 câu thơ diễn tả hành trình chứng ngộ của thiền sư Nguyễn Du.  Theo Mai Hiền Lương, Nguyễn Du không mượn Truyện Kiều để bày tỏ ý niệm hoài Lê hay đề xướng thuyết Tài Mệnh Tương Đố. Luận chứng trong Tiếng Lòng Của Nguyễn Du cho thấy Tố Như không phải là một “phàm nhân” mà là một thiền sư ngộ đạo. Nói gọn hơn, Nguyễn Du là vị Thánh. (Mai Hiền Lương, Tiếng Lòng Của Nguyễn Du, Nhân Duyên xuất bản)
Học giả Phạm Quỳnh cũng đã gọi Nguyễn Du là vị Thánh, Truyện Kiều là Thánh Thư, là Phúc Âm của Việt Nam, nhưng chỉ bằng trực quan bén nhạy và thông minh của mình, chớ chẳng xây dựng thành những luận chứng như Mai Hiền Lương đã làm. Linh mục Thanh Lãng, Gs. Đại Học Văn Khoa Saigon nhận xét: “Tuy nhiên từ đầu tới cuối, Phạm Quỳnh cũng chỉ là quả quyết một cách độc đoán, giáo điều; cũng chỉ là nhờ trực giác mà biện minh một cách say sưa như nhà nghệ sĩ giàu tình cảm đứng trước một cảnh dễ gây xúc động…”  (Nguyễn Văn Trung, sđd )
       
“ĐẠI PHONG PHÁP”

Theo Mai Hiền Lương, phải đọc Truyện Kiều qua lăng kính của “Đại Phong Pháp” - một tuyệt chiêu để truy tầm ý nghĩa đích thực thường rất bóng bẩy cao thâm của các nhà nho xưa - cách kiểu nói lái vòng vo nhiều tầng, nhiều lớp mà theo truyền thuyết Trạng Quỳnh là “tổ sư”. Trạng Quỳnh đã dùng chữ “Đại Phong” nghe rất văn hoa để chỉ “Lọ Tương” qua bốn chiêu thức:
        Đại Phong là gió to
        Gió to thì chùa đổ,
        Chùa đổ thì tượng lo,
        Tượng lo là …..lọ tương
 trong đó hai chiêu thứ hai và thứ ba thực sự .. biến ảo khôn lường.
    Xin được mở dấu ngoặc ở đây để làm sáng tỏ hơn cái thâm của các nhà Nho bằng một câu chuyện gần với thời đại chúng ta hơn, trong khoảng 40 năm trở lại đây, cũng mang tính chất “Đại Phong” không kém.
    Khi ông Nguyễn Văn Tâm được vua Bảo Đại cử làm Thủ Hiến Bắc Việt, từ sĩ phu cho tới người dân Bắc Hà, chẳng ai kính nể ông Thủ Hiến dân Tây này. Thời gian sau đó, nhân buổi lễ tiển chân Tâm đi nhậm chức Thủ Tướng Chính Phủ, Tâm được một số nhân sĩ tai mắt của đất Bắc tặng bức hoành phi đại  tự đề bốn chữ Hán “Đại Điểm Quần Thần”. Tâm rất đẹp ý, cho treo ở phòng khách trang trọng nhất của Phủ Thủ Tướng Saigon (Dinh Gia Long). Mãi về sau, Tâm được một nhà nho thông  chữ Hán giải thích, mới hiểu ra thâm ý của bức hoành là “chó Tâm làm bồi Tây” (Đại Điểm: chấm to, Quần Thần: bầy tôi). Tâm tức giận vô cùng, đành đem bỏ bức hoành vào sọt rác.

    Mai Hiền Lương đã vận dụng “Đại Phong Pháp” kèm thêm một số kiến giải sâu sắc của giáo lý nhà Phật, luận chứng rằng Truyện Kiều nói lên hành trình tu chứng của một thiền giả. Thúy Kiều không còn là giai nhân bị trời bắt khổ mà là “ý niệm” của hành giả họ Vương trên con đường tu tập. Do đó, tác giả cảm thán:
         “Khâm phục thay cư sĩ  Nguyễn Du,
        Đùa dai bỡn cợt kẻ phàm phu,
        Yếm Kiều, Phật pháp ông đem dấu,
        Lại muốn người sau khóc Tố Như.”
    Trước hết Tiếng Lòng Của Nguyễn Du vạch cho người đọc thấy những chỗ khiếm khuyết trong Truyện Kiều, nếu  nhìn  dưới nhãn quan văn học thuần túy:
    * Vương Quan là một thư sinh chưa đến tuổi dậy thì mà lại biết rành đời tư một nàng ca kỹ lừng danh đương thời,
    * Quan tri phủ dám đứng ra tác hôn cho Thúc sinh và Thúy Kiều mà quên rằng Thúc Kỳ Tâm là rễ của quan Lại Bộ Thượng Thư, cấp trên trực tiếp của mình,
    *  Cha của Thúc sinh có những hành động và tư tưởng không phù hợp với tư cách sui gia của quan Lại Bộ Thượng Thư,
* Ni sư  Giác Duyên kéo chài giăng sông Tiền Đường để chờ vớt Thúy Kiều là chuyện khó có thể tin được,
* Đặc biệt, buổi tái ngộ của Kim Trọng và Thúy Kiều được tác giả gán cho những lời đối đáp vá víu, không mạch lạc khiến người đọc phân vân không hiểu cuối cùng cả hai liên hệ nhau trên tình nghĩa bạn bè hay chồng vợ.

 * Về mặt tư tưởng, Mai Hiền Lương vạch rõ cho thấy Nguyễn Du không đề xướng thuyết Tài Mệnh Tương Đố. Kim Trọng được Nguyễn Du mô tả là “phong tư tài mạo tuyệt vời” và Thúy Vân cũng thuộc hàng “mười phân vẹn mười” so với Thúy Kiều, thế nhưng hai người này không chịu cảnh truân chuyên. Chả lẽ thuyết Tài Mệnh Tương Đố chỉ dành riêng cho Thúy Kiều?
Từ những “ tì vết ” này, tác giả ‘Tiếng Lòng Của Nguyễn Du’ lèo lái người đọc sang dần một chiều hướng khác cho đến khi chợt ngoảnh lại mới thấy rằng mình đang lạc vào cảnh giới an lạc, tự tại trong tâm tư thoát tục của thiền giả Tố Như. Theo đó, Đoạn Trường Tân Thanh phơi bày những biến chuyển nội tâm của một hành giả Phật giáo từ lúc vô minh cho đến khi giải thoát sinh tử.
Tên của từng nhân vật cũng được Mai Hiền Lương chiết giải thành những pháp môn tu tập trong nhà thiền. Qua những luận giải như Pháp Bất Nhị Môn (Pháp Môn Bất Nhị ?), Tam Tự Tính, Tam Hợp Nhất Như v.v.., người đọc phải được trang bị một số kiến thức Phật giáo và phải nghiền ngẫm nhiều mới cảm thông được chỗ uyên áo của giáo lý nhà Phật lồng bên trong Truyện Kiều. Theo tác giả ‘Tiếng Lòng Của Nguyễn Du’, Truyện Kiều là thiên Chứng Đạo Thi của người cư sĩ đạt đạo đất Tiên Điền. Dường như Mai Hiền Lương không có ý định thuyết phục người đọc chấp nhận quan điểm của mình nên tác giả đã tự đánh giá thiên khảo luận như là một chuyện phiếm chỉ để mua vui trong lúc trà  dư tữu hậu. Tuy thế, quyển Tiếng Lòng Của Nguyễn Du cũng đã khơi dậy một câu hỏi “Thật sự Nguyễn  Du muốn nói gì bên sau Truyện Kiều?”
Chúng tôi không có ý tìm hiểu xem khám phá mới lạ về Truyện Kiều của Mai Hiền Lương có phải là “gửi gấm đích thực” của Tố Như tiên sinh hay không? Bởi vì chúng tôi nghĩ rằng việc xác nhận đúng/sai xét cho cùng, chỉ một người có thẩm quyền trả lời: đó chính là Tiên Điền Nguyễn Du. Nhưng tiên sinh đã “vân du lạc quốc” từ hơn 170 năm nay, không thể sống lại để phát biểu ý kiến của mình.

     Dưới đây, chúng tôi thử tìm hiểu “tâm sự Tố Như” bằng một hướng tiếp cận khác có vẻ ít gai góc hơn. Hướng tiếp cận đó là văn thơ chữ Hán của Tiên Điền, kết hợp với việc khảo sát hành trạng của tiên sinh, chúng ta có thể đi đến kết luận chắc chắn hơn: “Tố Như tiên sinh là một thiền sư chứng ngộ Phật đạo.”
Khởi từ  kết luận này, chúng tôi  nghĩ  rằng việc tìm hiểu tâm sự của Tố Như sẽ có chiều hướng hợp lý và đúng mức hơn. Bởi lẽ, chúng tôi tin rằng “ký thác” của một Thánh nhân chẳng có thể và chẳng bao giờ giống với “tâm sự” của phàm phu chúng ta. Ngôn ngữ, mang đặc tính nhị nguyên của phàm nhân chúng ta, chẳng dùng được để diễn tả những tri kiến “nhất nguyên”, vượt  ngoài mọi ý niệm đối đãi, phân biệt. Kinh Phật  nêu ví dụ con rùa và con cá. Rùa nói thế nào, cá cũng không hiểu được đất liền là cái ra làm sao. Bởi thế kinh Phật có câu: “Y nghĩa bất y ngữ, y Trí bất y thức…” (theo ý nghĩa, đừng theo chữ, lấy TRÍ chứ đừng theo kiến thức thế gian mà hiểu kinh). Trong Lão Tữ Tinh Hoa, học giả Nguyễn Duy Cần cũng khuyên người đọc nên “dùng Tâm thay vì dùng Trí”  (2) để tìm hiểu Đạo Đức Kinh.
Xin hãy nghe Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói về “bậc chí nhân” như thế nào (Sáu Cửa Thiền Thất, Trúc Thiên dịch, PHV.QT):  “Phàm phu đang sống sợ chết, vừa no lo đói, mê hoặc làm sao ! Còn những người đích thực là người - những bậc CHÍ NHÂN chẳng tính việc trước, chẳng lo việc sau, chẳng náo động ở hiện tại, nên không lúc nào là chẳng thuận đạo.”

Bởi thế chúng tôi nghĩ rằng đặc biệt trong việc tìm hiểu tâm sự của Tố Như, chúng ta cần xác định trước tiên nhà thơ vĩ đại này có phải là một chí nhân hay không? Tất nhiên, với một Nguyễn Du Thánh nhân, mà cho rằng Cụ còn mang tâm sự u-ẩn riêng tây, muốn giải bày cho hậu thế 300 năm sau thương cảm cho Cụ đã ra làm quan với nhà Nguyễn Gia Long chỉ vì bất đắc dĩ chớ lòng Cụ luôn luôn hoài Lê, thì chắc hẵn hậu thế chúng ta đã vô tình nhục mạ cái “tâm kính NHƯ NHƯ” của Cụ rồi đó.
       
CUỘC ĐỜI VÀ HOÀN CẢNH LỊCH SỬ

Tiên Điền Nguyễn Du sinh năm Ất Dậu (1765), trong một gia đình đại vọng tộc ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Dòng họ Nguyễn Du vốn xuất  thân từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông. Tổ là Nguyễn Thuyên, thi đậu Trạng Nguyên năm 1532  làm Lại Bộ Thượng Thư dưới  triều đại nhà Lê, được phong tước Quận Công. Cháu nội Nguyễn Thuyên là Nguyễn Nhiệâm tước Nam Dương Hầu, khoảng năm 1578 -1599 vì binh biến ở kinh đô đã phải chạy trốn vào Hà Tĩnh, làng Tiên Điền  mai danh ẩn tích.  Thân phụ Nguyễn Du là cụ Bãng Nhãn Nguyễn Nghiễm đã từng giữ chức Tư Đồ (Tể Tướng ?) của nhà Lê, được ban tước Xuân Quận Công. Về  văn thơ, Nguyễn Nghiễm là tác giả của những tập Xuân Đình Tạp Vịnh, Việt Sử Bi Lãm và Khổng Tử  Mộng Chu Công. Mẹ Nguyễn Du vốn người Bắc Ninh, nơi nổi tiếng là đất văn vật ở Bắc Hà. Tiên sinh phải chịu cảnh mồ côi cha lúc mười tuổi và mồ côi mẹ lúc 13 tuổi. Vì thế tiên sinh phải sống trong hai năm với người anh cả (khác mẹ) là Nguyễn Khản, từng giữ chức Quốc sư, sau đó được sung chức Lại Bộ Thượng Thư – Tham Tụng (tương đương Tể Tướng) được phong tước Toản Quận Công - dưới triều đại Vua Lê, Chúa Trịnh. Các người anh khác của Tố Như đều đổ đại khoa và đều  có danh phận. Kẻ thì làm quan với nhà Lê  (Nguyễn Điều, Đô Đốc phủ sự Điền Nhạc hầu), người làm quan với nhà Tây Sơn –(Nguyễn Nễ), hoặc với Chúa Nguyễn. Riêng Nguyễn Du, đổ Tú Tài lúc 18 tuổi, tư chất rất thông minh, học vấn rất uyên thâm.  Tiên sinh được liệt vào hàng “An Nam Ngũ Tuyệt”, là một trong năm người hay chữ nhất nước ta vào thời đó (Tìm Hiểu Phong Cách Nguyễn Du, Phan Ngọc). Người đương thời cũng gọi Nguyễn Du là bậc “mục quán quần thư” có nghĩa là “mắt nhìn thông suốt các sách”

     Lúc 19, 20 tuổi, tiên sinh đã từng lãnh chức quan võ nhỏ (Lãnh binh) ở Thái Nguyên thay thế người cha nuôi họ Hà (khuyết tên) khi ông này qua đời. Khi Tây Sơn tiến quân ra Bắc, Nguyễn Du phải về nhà vợ ở Quỳnh Hải sống tạm trong mười năm và sau đó trở về quê nhà ở Tiên Điền, Hà Tĩnh, sống ẩn dật thêm năm năm trong một túp lều tranh sơ sài cất dưới chân dãy núi Hồng Lĩnh, thường ngao du sơn thủy với La  Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp. Một lần nọ, Nguyễn Du định dùng thuyền vượt biển vào Nam thờ chúa Nguyễn Ánh, nhưng bị tướng Tây Sơn Nguyễn Thuận phát giác và bị bắt cầm tù. Sau đó nhờ người anh ruột là Nguyễn Nễ và anh vợ là Đoàn Nguyên Tuấn - cả hai đều làm quan với nhà Tây Sơn và có quen thân với tướng Nguyễn Thuận - can thiệp, nên Nguyễn Du được thả ra sau ba tháng bị giam cầm.
Thuở thiếu thời, tiên sinh đã chứng kiến rất nhiều cảnh tang thương xảy ra trên đất nước do tình trạng Nam Bắc phân tranh gây nên. Trên thì Vua Lê chỉ có ngôi vị bù nhìn. Dưới thì Chúa Trịnh nắm hết mọi thứ quyền hành trong tay. Cực điểm của sự lộng quyền đã xảy ra khi Trịnh Sâm giết vua Lê Duy Vĩ (1772). Sau đó là biến loạn liên miên suốt hàng chục năm do quân lính ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh gây nên (loạn kiêu binh). Bọn kiêu binh này hành động ngang ngược và tàn bạo vô cùng! Mọi tôn ti trật tự đảo lộn. Chúa Trịnh Tông tuy được bọn kiêu binh đưa lên làm Chúa, sau đó lại bị truất phế. Trịnh Tông và vợ đã phải quì lạy bọn chúng để xin tha mạng và bị mắng chửi sỉ nhục tàn tệ. Một số tướng lãnh đương quyền đã bị kiêu binh giết chết. Quận Huy Hoàng Đình Bảo bị chúng dùng câu liêm móc từ trên lưng voi xuống và sau đó phanh thây, chết tức tuởi và tủi nhục. Nhiều dinh thự của các quan đại thần, trong số có tư dinh của người anh cả là Nguyễn Khản, bề tôi rất thân tín của Chúa Trịnh cũng bị đốt phá. Thảm họa quốc phá gia vong này bắt đầu xảy ra lúc Nguyễn Du mới 7 tuổi. Nhưng với tính tình đa cảm và nhạy bén, các hình ảnh đau thương trên đã ghi ấn tượng sâu đậm vào ký ức, nên về sau tiên sinh đã ngậm ngùi ký thác trong Truyện Kiều:
“Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”   (c.3 &4 - Truyện Kiều)
    Những kẻ tài ba uy danh một thời như Nguyễn Hữu Chỉnh, như Vũ Văn Nhậm lần lượt bị quân Tây Sơn giết. Con người kinh luân thao lược như  Ngô Thời Nhậm theo phò Vua Quang Trung thì lại bị Vua Gia Long hoặc cận thần (Đặng Trần  Thường) dùng cực hình trừng phạt cho tới chết. Ngay chính  Đặng Trần  Thường về sau cũng bị Vua Gia Long xử tội chết.  Do đó Cụ đã cảm thán:
     “Nghĩ đời mà ngán cho đời,
    Tài tình chi lắm cho trời đất ghen!”      (c.2153  & 2154- Truyện Kiều)
hoặc:
     “Có tài mà cậy chi tài,
    Chữ tài liền với chữ tai một vần!”    (c.3247 &3248 -Truyện Kiều)

    Hiển nhiên, đối với một tâm hồn cực kỳ nhạy cảm như Cụ, những bi thương đó tất đã làm cho Cụ nhận thức sâu sắc hơn về “khổ đế” - nhận thức căn bản thứ nhất trong đạo Phật (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), giúp Cụ thấy rõ hơn bản chất của cuộc đời. Hưng vong, thịnh suy, triều đại này xuống, triều đại khác lên chỉ là những hiện tượng diễn biến của cộng nghiệp xã hội, hoặc biệt nghiệp của triều đại vốn mang đặc tính vô thường như những đợt sóng khi lên khi xuống. Bởi cảm thông sâu đậm nỗi đau nhân thế đến mức cực điểm, thi hào Nguyễn Du mới có thể viết thành những câu thơ tuyệt diệu, khó tìm thấy trong văn thơ cổ kim Đông Tây:

     “Buồn trông cửa bể chiều hôm,
    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
     Buồn trông ngọn nước mới sa,
     Hoa trôi man mác biết là về đâu.
     Buồn trông nội cỏ dàu dàu,
     Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
     Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
     Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”         (c.1047 & 1055 -Truyện Kiều)

Từ nhận thức Khổ Đế, kết hợp với kinh nghiệm sống trong giai đoạn đau thương của lịch sử đất nước, Nguyễn Du đến với đạo Phật như một tín đồ thuần thành để mong tìm một lối giải thoát đích thực và vĩnh viễn.

Hoàn thành thống nhất đất nước (1802), Vua Gia Long xuống chiếu kêu gọi sĩ phu Bắc Hà và quan lại cũ nhà Lê ra tham chính. Tiên sinh được bổ nhậm chức Tri huyện Phụ Dực (tỉnh Thái Bình), rồi Tri Phủ Thường Tín (tỉnh Hà Đông). Sau đó Cụ  cáo bệnh xin nghỉ. Năm 1806, Cụ được Vua Gia Long  triệu vào kinh sung chức Đông Các Học Sĩ. Năm 1809, Cụ được cữ giữ chức Bố Chính Quảng Bình. Ít năm sau, thăng Cần Chánh Đại Học Sĩ. Sau lần đi sứ Trung Hoa về, Cụ được thăng chức Hữu Tham Tri Bộ Lễ và giữ chức này cho đến ngày mãn phần (1820). Cũng năm đó trước Nguyễn Du  mấy tháng, Vua Gia Long đã băng hà và Vua Minh Mạng lên ngôi Hoàng đế .

TÂM CHỨNG BIỂU LỘ QUA THƠ VĂN

Tuy không rõ niên biểu các bài thơ Cụ làm, song qua khẩu khí của sự tâm chứng, xin đề nghị xếp theo thứ tự như sau để khảo sát mức độ thâm nhập trong đạo lý nhà Phật: Đạo Ý, Tạp Thi, Đề Tam Thanh Động, và cuối cùng là bài Phân Kinh Thạch Đài.
    Qua bài thơ Đạo Ý, thiền giả Nguyễn Du đã thành thực cho người đọc thấy rõ trạng thái “định” của Cụ vào lúc đó chưa được kiên cố. Trong công phu thiền hoặc trong cuộc sống, còn có khi động khi tịnh:

“Minh nguyệt chiếu cô tỉnh,              "Trăng sáng chiếu giếng xưa,
Tỉnh thủy vô ba đào,                      Giếng nước không gợn sóng,
Bất bị nhân khiển chi,                     Không bị ai lôi kéo,
Thử tâm chung bất dao,                  Lòng này chẳng lung lay     
Túng bị nhân khiển chi,                    Ví có ai lôi kéo,
Nhất dao hoàn phục chỉ                  Động rồi lại lặng ngay
Trạm trạm nhất phiến tâm.              Lòng ta trong vắt một mảnh
Minh nguyệt cố tỉnh thủy”               Như trăng chiếu giếng xưa.” 
  (Nguyễn Đăng Thục, sđd.- tr.61)

Hình ảnh “giếng xưa” trong đạo Phật được ví với lòng người sâu thẳm khôn dò, với các tầng nào ý thức, nào tiềm thức, vô thức và siêu thức. Xa xưa, chẳng biết từ bao giờ, giếng đã có sẳn nơi đây. Chẳng biết AI đã đào nên giếng. Mà thực ra cũng chẳng cần mất công tìm kiếm Tác Giả là AI. Bởi vì, Tác Giả chỉ xuất hiện khi ta hoàn toàn ý thức về mình, hiểu rõ được chính mình.
    Lòng này “vốn lặng yên” như “nước giếng không gợn sóng”. Tuy nhiên, nếu “có người lôi kéo” thì cũng không khỏi xao động. Hành giả quán sát cái chỗ thoắt động, thoắt tịnh đó bèn khởi lên những thắc mắc và tự tra vấn: “Do đâu sinh ra động, tịnh đó ? Ai biết được cái động, tịnh đó ? Cỏ cây có ý thức chăng cái động, tịnh đó ? Vậy ta động, cái biết của ta động hay ngoại cảnh động? “Ta”, thực ra là ‘cái gì ’ đây?
Từ đó thiền giả Nguyễn Du trực nhận được nguồn gốc sinh ra cái động, tịnh đó. Thấy được động hay tịnh cũng chỉ là những “gợn sóng trong tâm thức”, khi lên khi xuống của mặt biển Bản thể vốn hằng hữu và tròn đầy, vắng lặng mà tịch chiếu. Cuối cùng thi hào đạt đến trạng thái “lòng ta trong vắt một mảnh”.
    Qua hai bài thơ Tạp Thi 1 và 2, Tiên Điền thấy rõ tiến bộ trong sự “tâm chứng” của mình, qua từ “tâm kính Như Như” :
         “Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự,
         Tứ thời tâm kính tự NHƯ NHƯ”     (Tạp Thi)
 
    lược dịch là :
        “Lá rụng, hoa nở qua trước mắt,
        Bốn mùa gương lòng vẫn NHƯ NHƯ”       (N.Đ. Thục, sđd)
   
    Ở một đoạn khác, Tiên Điền không còn úp mở về sự chứng ngộ đó khi tự xác nhận là “đạt nhân”
         “ĐẠT NHÂN tâm kính quang như nguyệt,
        Xữ sĩ môn tiền thanh giả sơn…       (Tạp Thi)

    được dịch là :
           “Lòng NGƯỜI ĐẠT ĐẠO sáng như trăng,
                   Trước cửa người ẩn dật chỉ có núi xanh.”        (N.Đ. Thục, sđd)   
    Thời xa xưa ở thế kỷ thứ 7, dưới mái chùa Hoàng Mai của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn bên Trung Hoa, vị đệ tử đầu đàn của Tổ là Thần Tú (605-706)- về sau làm Quốc Sư - đa văn, học nhiều hiểu rộng, giới hạnh trang nghiêm, đã dùng hình ảnh “tâm kính” để ví với lòng người qua bài kệ bất hủ mà người đời sau gọi là Kệ Vô Tướng. Trong đó Thượng Tọa Thần Tú cho rằng:
         “Thân thị Bồ Đề thọ,                     “Thân như cây Bồ Đề,
         Tâm như minh kính đài,            Tâm như đài gương sáng,
          Thời thời cần phất thức,               Hàng ngày phải chùi lau,
          Vật sử nhá trần ai.”                   Chớ để bụi bám vào.”
    Trong khi đó Huệ Năng, một chú tiểu quê mùa, không biết chữ lại có bài kệ - nhờ người khác viết giúp - ý nghĩa trái ngược:
        “Bồ Đề bổn vô thọ,                  “Bồ Đề vốn không cây,
        Minh kính diệc phi đài,            Gương sáng chẳng có đài,
          Bổn lai vô nhất vật,                     Xưa nay chẳng hề có một vật,
          Hà xứ nhá trần ai.”                    Thì bụi bám vào đâu?”
    Cuối cùng, Huệ Năng được Ngũ Tổ ấn chứng truyền y bát làm vị Tổ thứ Sáu vì qua bài kệ, ngài Huệ Năng đã tỏ ra ngộ đạo.
    Với ngôn từ “Tâm kính tự Như Như”, và nhất là lời tự xác nhận “đạt nhân tâm kính quang như nguyệt”, Tiên Điền Nguyễn Du đã cho thấy rõ hơn sự chứng đạo của nhà thơ thiền sư.
Qua bài “Đề Tam Thanh Động” trích dẫn sau đây, rõ ràng Cụ đã đi vào giáo lý Hoa Nghiêm: “Lý sự viên dung, sự sự vô ngại ” và ‘tương tức, tương nhập, tương dung, tương nhiếp’.  Với các kiến giải cao thâm như: “Gốc sợi lông chứa tam thiên đại thiên thế giới” vượt khỏi cái thấy biết hạn lượng của ý thức con người, trong đó tiêu dung mọi ý niệm phân biệt lớn nhỏ, cao thấp, trước sau, phải trái, thuộc các phạm trù không gian cũng như thời gian, tâm lý cũng như vật lý v.v…..  Xin hãy thưởng thức đoạn thơ sau đây:
        “Vạn bản thủy thạch thiện đại xảo,
        Nhất lạp kiền khôn khai tiểu thiên,
             Mãn cảnh giai không hà hữu tướng,
        Thử tâm THƯỜNG ĐỊNH bất ly thiền.”  
          (Đề Tam Thanh Động)

được dịch là:           
 “Ngàn muôn thứ, nào đá nào nước xếp đặt tự nhiên nghệ thuật rất khéo,
Một hạt nhỏ trời đất mở ra một thế giới nhỏ.
Khắp cảnh giới đều “trống rỗng” thì làm gì còn có sắc tướng?
Lòng này thường định không rời cảnh thiền.”                
(N.Đ. Thục, sđd)   
    Luận về Giới-Định-Tuệ, theo Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng, Quốc sư Thần Tú thì cho rằng: “giữ tâm ý mình cho trong sạch gọi là ĐỊNH”. Trong thực hành thì “trụ tâm quán tịnh, ngồi mãi không nằm”. Lục Tổ Huệ Năng (638-713) đã phê phán lối thiền này như sau: “Trụ tâm quán tịnh là BỆNH, chẳng phải thiền. Thường ngồi là câu thúc cái thân, đối với đạo lý có ích gì đâu?” Theo Lục Tổ thì:
“Tâm địa không rối, thì tánh mình định.
Không thêm không bớt, tánh mình Kim Cang.
Thân tới thân lui vốn là Tam Muội - tức Chánh Định.”

    Cùng một “tần số tri kiến” như trên, thiền sư Huyền Giác - đồng thời với Lục Tổ Huệ Năng - đã mô tả trạng thái “thường định” như sau trong tập thơ Chứng Đạo Ca lừng danh của mình:
       “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền,
      Nói im động tịnh thảy an nhiên.
      Phỏng gặp gươm đao thường nhẹ hững,
      Ví nhằm thuốc độc vẫn bồng tênh…”            
                     (Chứng Đạo Ca, PHV.QT) :

Ở một đoạn khác của Chứng Đạo Ca:
     “Suốt suốt thấy không một vật,
      Cũng không người, cũng không Phật,
      Thế giới ba ngàn bọt nước xao,
      Mỗi mỗi thánh hiền như điện phất,
      Ví phỏng thiết luân trên đầu chuyển,
      Định Huệ sáng  tròn luôn chẳng biến..”

    Nói tóm lại, theo Lục Tổ cũng như thiền sư Huyền Giác thì “đi, đứng, nằm, ngồi thân tự tại”, đó mới thực sự là “thường định”. Định trong mọi hoàn cảnh, mọi lúc, mọi tư thế. Rõ ràng, “thường định” thực sự là công phu thiền đạt đến trình độ rất cao vậy. Nguyễn Du thố lộ “lòng này thường định không rời cảnh thiền”, cho thấy công phu thiền định của tiên sinh rất thuần thục.
    Phần lớn các bài thơ này Nguyễn Du đã làm trong thời gian qui ẩn dưới chân núi Hồng Lĩnh ở Hà Tĩnh, hoặc vào những dịp thăm viếng các thắng cảnh, trước khi ra làm quan với triều đình nhà Nguyễn Gia Long. Riêng bài “Thạch Đài Phân Kinh”, tác giả làm trong khi sung chức Chánh Sứ Trung Hoa. Tố Như thành thực cho chúng ta biết thêm, Cụ đã đọc tụng kinh Kim Cương hơn ngàn lần (một công phu ít Phật tử làm được) nhưng chưa hiểu được hết ý kinh.
“Ngã độc Kim Cang thiên biến linh,       Ta đọc Kim Cương hơn ngàn lần
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh,            Nghĩa kín phần nhiều không hiểu thấu
Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ,        Kịp đến Phân Kinh Thạch Đài này
Chứng tri VÔ TỰ thị Chân Kinh.”         Mới hiểu Chân Kinh không có chữ ‘
 (N.Đ.Thục, sđd).
   
    Thạch Đài là một tòa lâu đài xây bằng đá do Thái Tử Lương Chiêu Minh (con vua Lương Vũ Đế, một vị vua Trung Hoa rất sùng mộ đạo Phật) chủ trương xây dựng để chứa các kinh điển nhà Phật, phân loại theo từng thừa, giáo, môn phái, qua các thời kỳ khác nhau.
    Cuộc viếng thăm này như một cơ duyên làm bừng sáng cái tri kiến của Nguyễn Du để Cụ đạt tới cảnh giới tâm chứng “Không Pháp”, thâm ngộ lời dạy của Đức Phật trong kinh Kim Cương. Tương tự Ngài Huệ Năng hơn một ngàn năm về trước, Cụ đã chứng nhập vào cái thế giới “nhất nguyên” vô sai biệt của Chân Trí, thấy rõ được thực tướng “Vô Tướng” của muôn vàn hiện tượng trong vũ trụ. Kinh không còn là kinh, chữ không còn là chữ. Tất cả là một trống rỗng, trống rỗng đến tận cùng. Trống rỗng từ mình (ngã) trở đi (pháp). Như tấm gương sáng làu. Như bức tranh thứ 8 của “Thập mục ngưu đồ” đã mô tả. Bức tranh chỉ còn một vòng tròn vắng lặng, tịch diệt: người chăn trâu và trâu đều biến mất (Nhân ngưu câu vong).
    Ở đây tưởng cũng nên trình bày đôi nét về kinh Kim Cương của nhà Phật mà Nguyễn Du tiên sinh đã từng trì tụng. Kinh này là kinh liểu nghĩa của pháp môn đốn giáo Đại Thừa, chủ yếu “phá tướng” triệt để, lìa hết mọi thứ chấp nhất về ngã, về pháp. Chính những thứ chấp nhất này đã làm thui chột cái thấy biết rỡ ràng tự nhiên của Chân Tâm vốn luôn luôn linh diệu, trong sáng và tròn đầy. Qua kinh này, Đức Phật dạy cho các đệ tử tu hạnh Bồ Tát về cách điều phục tâm ý, nhơn một cao đồ là ngài Tu Bồ Đề hỏi: “Làm sao hàng phục vọng tâm, làm sao an trụ Chân Tâm”.   (Kinh Kim Cương - PHV.QT)
    Kinh này rất quan trọng trong đường lối tu Đại Thừa và được chọn làm kinh truyền thừa trong các tự viện của Thiền Tông Trung Hoa. Hành giả tu Phật sau khi dứt trừ được chấp “ngã” (chấp cái ta đáng ghét này là một thực thể), còn phải tiến tu lên nữa để phá chấp “pháp” (chấp vũ trụ hiện tượng là thực có), mới đạt đến chỗ tu chứng rốt ráo. Chú tiểu Huệ Năng, vừa dốt chữ, lại dốt luôn cả Phật pháp (Chứng Đạo Ca của Huyền Giác, Trúc Thiên, PHV.QT), khi nghe Ngũ Tổ giảng kinh này, đã thâm ngộ nghĩa lý câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ Tâm”. (đại ý : “không dính mắc vào đâu cả thì sẽ thấy Chân Lý.”)
    Trong khoảnh khắc, Huệ Năng rũ sạch được lớp lớp những mê lầm khổ não để ngộ nhập trong bể An Tịnh của Chân Lý Giải Thoát, một lượt xóa sạch ngã chấp và pháp chấp. Sau khi ngộ đạo, chứng được Tự Tâm, Ngài Huệ Năng đã thốt lên lời tán thán kinh ngạc khi phám phá thế giới kỳ diệu của Tự Tâm:
        “Ai ngờ Tâm mình vốn tự thanh tịnh,
        Ai ngờ Tâm mình vốn không sanh diệt,
        Ai ngờ Tâm mình vốn tự đầy đủ,
        Ai ngờ Tâm mình  vốn không dao động,
        Ai ngờ Tâm mình hay sanh muôn pháp.”   
                                             (Pháp Bảo Đàn Kinh)
    Có thể nói giai đoạn đầu trong hành trình tu chứng của Nguyễn Du là thời gian 15 năm ở ẩn (10 năm ở Quỳnh Hải và 5 năm ở Hồng Lĩnh). Thời gian này Cụ đạt được trạng thái “tâm kính Như Như”, và “thường định”. Tuy nhiên vẫn còn pháp chấp của hành trình đại thừa. Bởi vậy đối với kinh Kim Cương, Cụ vẫn còn nhiều chỗ “bất minh”, như Cụ đã thành thực giải bày trong bài Phân Kinh Thạch Đài. Sau đó nhờ công phu hành trì đọc tụng Kinh Kim Cương và cơ duyên đặc biệt viếng thăm Thạch Đài Phân Kinh của Lương Thái Tử, Cụ đã chứng được “Pháp Không”, thâm nhập trong cảnh giới “sắc tức thị không, không tức thị sắc” của Bát Nhã Trí vô phân biệt. Cứ theo khẩu khí đó thì Cụ đã là bậc Bồ Tát, vượt khỏi các vòng vây của ngã chấp và pháp chấp.
   
CHỨNG NGỘ XÉT QUA HÀNH TRẠNG

    Đến đây chúng ta đã phần nào thấy khá rõ ràng qua thơ văn, Nguyễn Du chứng tỏ là một đạt nhân. Tuy nhiên chỉ chừng đó mà thôi cũng chưa thể gọi là đủ để xác định một hành giả chứng ngộ trong đạo Phật. Tu chứng, theo đạo Phật, phải bao gồm hai phần lý thuyết và thực hành . Cuộc sống hàng ngày phải thể hiện và đi đôi với sự hiểu biết mới được xem là thực tu, thực chứng. Nếu không, chỉ được kể như kẻ làm công “đếm bạc ở ngân hàng”, dầu có qua tay mình hàng trăm triệu đồng, vẫn chưa bao giờ được kể là triệu phú.
    Về mặt thân chứng (Sự), xin hãy xem hai sự kiện kể sau, được ghi lại trong sách Chính Biên Liệt Truyện - trích dẫn từ Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du của Gs. Nguyễn Đăng Thục- (N.Đ. Thục, sđd)
    1) Trước khi mất, Cụ bình tĩnh hỏi người nhà: “Lạnh ngang đâu rồi?” Người nhà trả lời: “Lạnh ngang chân.” Cụ chỉ đáp: “Tốt”, và thản nhiên lìa đời. Chẳng có lời trối trăn. Cũng chẳng để lại chúc thư nào cho con cháu.  (N.Đ.Thục sđd)
     Liên tưởng đến lời của Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói về bậc Chí Nhân ở trên: “chẳng tính việc trước, chẳng lo việc sau, chẳng náo động ở hiện tại..” cho thấy rõ cái chết của Tiên Điền thực sự là cái chết của một bậc Chí Nhân. Danh từ đạo Phật gọi cái chết như vậy là “viên tịch”. Một cái chết “tròn trịa” trong ý nghĩa lìa cõi đời nhẹ nhàng như một sự trở về. Trở về là trở về với cái Tự Thể của chính mình. Có nghĩa là không trở về đâu hết, bởi vì cũng chẳng đi đâu, chẳng đến đâu. Bởi vậy, mới gọi là “bất khứ, bất lai”.
    2) Trong khi làm quan ở triều đình, Cụ thường rất ít nói trong các buổi chầu. Có lần Vua Gia Long đã ngỏ ý trách cứ: “Nhà nước dùng người, cứ ai hiền tài thì dùng, không phân biệt gì Nam Bắc cả. Ngươi đã làm đến chức Á Khanh, biết việc gì phải nói để tỏ cái chức trách của mình, có lẽ đâu cứ rụt rè, sợ hãi, chỉ vâng vâng dạ dạ hay sao?” Người cùng thời đã không hiểu được Cụ, nên cho rằng Cụ “tuy bề ngoài ít nói năng nhưng bề trong thì có ý kiêu hãnh ”  (N.Đ.Thục, sđd). Đó phải chăng là Cụ không tìm thấy kẻ tri âm trong triều đình, bởi nhìn quanh mình đâu đâu cũng là những quan lại phàm tục, mà danh lợi là lẽ sống duy nhất:
    “Vui là vui gượng kẻo là,
    Ai tri âm đó mặn mà với ai?”                      
(c.1247&1248 -Truyện Kiều)
   
Cảm giác cô đơn chính là cảm giác của những Chí Nhân, những kẻ lội ngược dòng đời. Bởi thế Cụ đã “tự bạch” trong bài thơ Vịnh Khuất Nguyên (N.Đ.Thục, sđd):

“Thiên cổ thùy nhân lân độc tỉnh,
Tứ phương hà xứ thác cô trung.”
Dịch là:
“Tự ngàn xưa, ai kẻ xót thương người độc tỉnh,
Bốn phương biết gửi gấm lòng cô trung nơi nào?”

    Giữa lúc mọi người, từ Vua cho tới các quan lớn, quan nhỏ tất cả say sưa, mê đắm trong giấc mộng công hầu, thì Tiên Điền Nguyễn Du tự biết mình là người đang tỉnh mộng. Tuy cũng cân đai áo mão trong “lớp tuồng” công hầu khanh tướng song tiên sinh biết rõ mình vừa là kẻ đang đóng tuồng vừa là khán giả của vở tuồng. Đã hơn một ngàn lần tụng đọc kinh Kim Cương, làm sao tiên sinh không thâm nhập cho được ý tưởng xem cuộc đời “như mộng huyễn bào ảnh” của kinh này, nhất là với một người có đôi mắt “mục quán quần thư ” như Cụ. Bởi thế, Tố Như không bị lôi cuốn trong vòng danh lợi thường tình như những đồng liêu khác. Nguyễn Du không chạy theo ảo ảnh của màn kịch áo mão xe xua, bẩm báo, tâng công. Chính vì tiên sinh là người tỉnh, một mình mình tỉnh (độc tỉnh) và biết rõ là mình tỉnh.
    3) Để sáng tõ hơn nữa sự tâm chứng của nhà đại thi hào này, tưởng cũng cần nêu lên đây nhận xét về thiên tài Nguyễn Du của Mộng Liên Đường chủ nhân (Phan Ngọc, Tìm Hiểu Phong Cách Nguyễn Du, NXB.KHXH. Hà Nội) - :
“Nguyễn Du có con mắt nhìn suốt sáu cõi, có cái nhìn trông thấy được ngàn đời.”
Lời nhận xét này đã được Giáo sư Phan Ngọc, nhà phê bình văn học miền Bắc nhận định như sau:
“ Cho đến nay, đó vẫn là lời đánh giá hay nhất về thiên tài họ Nguyễn.”
    Thật đáng ngạc nhiên! Là một nhà biên khảo chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Mác-Xít, Giáo sư Phan Ngọc cũng đã tán dương sự đánh giá của Mộng Liên Đường chủ nhân, một sự đánh giá rất đậm màu sắc duy tâm. Bởi vì sáu cõi đó có gì khác hơn là các cõi tiên, thần, người, loài thú (súc sinh), ma đói (ngạ quỉ) và địa ngục, như kinh sách nhà Phật cho biết? Người phàm phu làm sao có được “con mắt nhìn suốt sáu cõi”? Người phàm phu thì làm gì có được “cái nhìn trông thấy được ngàn đời”? “Con mắt nhìn” đó và “cái nhìn kia” chỉ có thể là con mắt của bậc chí nhân, cái nhìn của bậc Thánh! Đó phải chăng là “pháp nhãn”, hoặc “huệ nhãn” của các vị Thánh giải thoát chứ không còn là thứ nhục nhãn (mắt thịt) của phàm phu.
    Bởi thế, chúng ta không ngạc nhiên vì sao nguyên tác Kim Vân Kiều bằng văn xuôi chữ Hán của Thanh Tâm Tài Nhân tầm thường thế ấy lại được Nguyễn Du chọn và đem hết tâm cơ phổ thành thơ nôm, đạt tới chỗ xuất thần, nhập thánh thế kia? Vì sao những đoạn tả tâm lý nhân vật, tả tình, tả cảnh của Tiên Điền tuyệt diệu vô song, sống động và y như thật thế ấy? Bởi vì thi hào Nguyễn Du là Thánh nhân. Chính vì Nguyễn Du là bậc Thánh nên tiên sinh đã thấu suốt tâm mình cũng như thấu rõ lòng người, hiểu tường tận tâm ý của các hạng người cũng như hiểu chính lòng mình vậy. Cái ‘Tuệ Giác siêu việt’ đó như ngọn đèn pha một khi đã soi chiếu vào thì còn góc cạnh nào, u ẩn nào của bất kỳ nhân vật nào trong xã hội, trên thế gian mà không hiện lên rõ nét?
    Đến đây, có lẽ mọi người đều thấy rõ Tố Như tiên sinh là một Thánh nhân theo đạo lý nhà Phật, chẳng những bằng lời lẽ, khẩu khí  qua thơ văn và hành trạng thân chứng của Cụ mà còn, hơn thế nữa - vì một nguyên nhân nào đó- do Cụ tự thú nhận là đạt nhân! (3)

TỐ NHƯ BỊ HÀM OAN ?

    Từ kết luận trên, ai mà chẳng băn khoăn tự hỏi, Tiên Điền Nguyễn Du với trình độ tu chứng như thế sao còn có thể vướng bận với những buồn vui thế tục, khắc khoải dằn vặt theo những theo những biến đổi chính trị, triều đại này xuống, triều đại khác lên để rồi phải than thân trách phận, mong hậu thế những  ba trăm năm sau cảm thông, thương khóc cho mình… như chúng ta từ lâu nay vẫn thường “gán” cho Cụ có tâm sự sâu kín hoài Lê? Những kẻ sơ cơ trong bước đầu tu học theo đạo Phật hẳn cũng đã rõ biết thế nào là tam-pháp-ấn trong giáo lý nguyên thủy (tiểu thừa) của nhà Phật: Vô Thường, Khổ, Vô Ngã (4) thì làm sao một “đạt nhân” với “tâm kính NHƯ NHƯ”, với tấm lòng “quang như nguyệt” lại có tâm trạng riêng tây, u ẩn như thế được?
    Huống chi, theo đạo lý Phật, những diễn biến hưng vong của một triều đại, hoặc sự thịnh suy của đời người chẳng qua chỉ là những cơn sóng nhấp nhô trong biển nghiệp lực mà chúng sinh đang ngụp lặn. Như một thiền sư đời Trần đã mô tả:
 “Biển khổ mênh mông sóng ngút trời,
Khách trần chèo một chiếc thuyền chơi,
Thuyền ai ngược gió ai xuôi gió?
Lui tới cùng trong bể khổ thôi !”
    Nhất là trong thời loạn, diễn biến thịnh suy lên xuống của cuộc đời là điều rất thường tình. Riêng với Tố Như, rõ ràng tiên sinh được mệnh số ưu đãi khá nhiều, Sinh ra trong gia đình vọng tộc, cao sang nhất nhì trong nước, được học hành đổ đạt, lại có tài năng thiên phú “mục quán quần thư” là một trong “An Nam ngũ tuyệt”, làm quan đến chức Hữu Tham Tri… Với hiểu biết của một Phật tử - hơn thế nữa, của một đạt nhân- không lý gì Cụ lại có lòng mong cầu cho được cái “toàn bích, toàn mỹ” ở cõi đời vốn tương đối, hữu hạn và vô thường này? Người quân tử của đạo Nho cũng đã thấm nhuần triết lý “tri túc” rồi, huống gì Tiên Điền Nguyễn Du đã là một chí nhân trong đạo Phật ?
    Nhiều người cho rằng tiên sinh mang nặng tình cảm sâu đậm với nhà Lê, vì cả gia đình Cụ đã nhiều đời hưởng lộc nhà Lê. Điều này cũng đáng ngờ lắm. Bởi vì, như mọi người đều biết, dưới triều nhà Lê trung hưng, Chúa Trịnh nắm hết quyền bính, thao túng mọi sinh hoạt chính trị, kinh tế quốc gia. Vua Lê chỉ là kẻ làm vì. Xã hội đầy rẫy những tệ đoan và bất công. Triều đại này đâu còn chút hào quang nào của những vị Vua anh minh như Lê Thánh Tôn, Lê Anh Tôn  trước kia?
    Bởi vậy khi tiến sĩ Phạm Công Thế bị Chúa Trịnh hành tội vì theo Lê Duy Mật (1738-1770) khởi nghĩa, ông đã khẳng khái nói rõ: “Danh phận chưa sáng tỏ đã lâu rồi, còn phân biệt thế nào là thuận, nghịch nữa.” (Đổ Bang, Những Khám Phá Về Hoàng Đế Quang Trung, nxb Huế). Câu nói trên cho thấy rõ sĩ phu Bắc Hà đã mất hướng đi từ khi phủ Chúa Trịnh được thành lập, mà quyền uy ngày càng lấn át các Vua Lê.
    Hoàng Lê Nhất Thống Chí kể lại cuộc chạy trốn khỏi kinh thành của Vua Lê, Chúa Trịnh khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc Hà vào mùa hè năm 1786 như sau:
    * “Lê Cảnh Thược, trấn thủ Kinh Bắc đã dám ngang nhiên và sống sượng nói với Vua Lê Chiêu Thống khi Vua chạy đến bờ sông tìm thuyền trốn: “Bệ hạ muốn sang sông gấp thì xin ban cho thần ít nhiều vàng lụa..” Vua nói: “Trẫm có cả thiên hạ còn không giữ được, bây giờ còn tiếc cái gì nữa.” Rồi Vua sai mở hòm cho Thược xem. Trong hòm chỉ còn con dấu truyền quốc và 40 lạng vàng. Vua nói: “Tùy nhà ngươi muốn lấy gì thì lấy…”
    * Nguyễn  Trang, học trò Lý Trần Quán được thầy giao cho hộ vệ Chúa Trịnh trên đường bôn tẩu. Trang báo tin cho Tây Sơn đến bắt. Lý Trần Quán hỏi, thì Trang trả lời: “Sợ thầy không bằng sợ giặc, yêu Chúa không bằng yêu thân mình…”
    Rõ ràng, khuôn mẫu Nho giáo xưa không còn đủ sức kềm tõa tầng lớp sĩ phu trong trật tự Quân – Sư - Phụ vốn đã ruỗng nát từ thượng tầng trong xã hội nhà Lê trung hưng. Vã lại, dưới triều đại xế chiều Lê mạt đó, Nguyễn Du chẳng giữ địa vị quan trọng nào. Có chăng chỉ là chức quan nhỏ (Lãnh binh) ở miền núi Thái Nguyên thay thế người cha nuôi, khi tiên sinh còn là một thanh niên 19, 20 tuổi.
Có người cho rằng Nguyễn Du làm quan dưới triều Nguyễn chỉ vì bất đắc dĩ như đã suy diễn từ câu:
         “Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?”   (c.2466-Truyện Kiều)
    Chúng tôi nghĩ rằng, xem Nguyễn Du như “hàng thần” của triều đại Gia Long là lối nói gượng ép. Nguyễn Du chưa bao giờ là “thần” của nhà Lê khi Chúa Nguyễn Ánh tiến quân ra Bắc. Vào lúc đó tiên sinh đang là ẩn sĩ ở núi Hồng Lĩnh. Vả lại, nếu cho rằng làm quan với Vua Gia Long đối với Nguyễn Du là việc “bất đắc dĩ” thì làm sao giải thích sự kiện trước kia Cụ đã từng có ý định vượt biển vào Nam phò Chúa Nguyễn Ánh và bị tướng Tây Sơn Nguyễn Thuận bắt giam ba tháng?
    Mặt khác, một người trí lự như  Nguyễn Du đâu có thể sơ suất đến độ trong khi đang làm quan với Vua Gia Long mà lại tỏ lòng luyến tiếc Chúa cũ, so sánh việc mình ra làm quan với triều Nguyễn Gia Long như nàng Kiều phải bán mình chuộc cha? Hẳn ai nấy đều rõ, Vua Gia Long phải khó khăn gian khổ nhiều lắm mới dành được chính quyền từ tay nhà Nguyễn Tây Sơn. Vào lúc đó đất nước mới thống nhất sau hơn 50 năm bị chia cắt, miền Nam thì mới gầy dựng từ đất đai của người Chiêm Thành và Chân Lạp, và trong khi con cháu và quan lại nhà Lê còn rất nhiều ở Bắc Hà, cựu thần Tây Sơn còn lẫn lút chưa tìm ra hết có thể tạo phản bất cứ lúc nào. Nền quân chủ nhà Nguyễn vào lúc đó tất nhiên phải mang nặng tính chất chuyên chế. Vậy thì tư tưởng “hai lòng” rất có thể bị kết tội nhẹ là ‘khi  quân”, hoặc nặng hơn là “mưu phản” và có thể bị “tam ban triều điển”,  nếu không phải là “tru di tam tộc.”
   
Y NGHĨA BẤT Y NGỮ

    Cuộc sống người xưa bị khuôn khổ trong vòng lễ giáo, phong tục, tập quán khắt khe nên không chấp nhận được những đoạn thơ ướt át, du dương trong Truyện Kiều, những đoạn mà các nhà cựu học đã từng lên án “trèo tường, trổ ngõ”, hoặc mang tính chất “ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tang, bi ..” Tuy nhiên dưới nhãn quan của các hành giả chứng ngộ trong đường lối đại thừa Phật giáo, các pháp là không thực có. Không thực có vì chẳng có tướng (hình dạng, màu sắc, đối tượng của giác quan, ý thức) và tánh (tánh chất) nào nhất định, nên đối với các hành giả này, mọi   phương tiện đều có thể dùng làm pháp, mọi pháp đều có thể xử dụng làm phương tiện. Do đó không hề bị dính mắc, không hề bị ngăn ngại bởi các pháp.
     Nhìn lại lịch sử các vị tu chứng trong đạo lý Phật, đành rằng ít có vị nào lưu lại tác phẩm văn học, họa hoằn mới để lại cho đời vài bài kệ ngắn ngủi, 4 hay 8 câu là cùng. Tuy thế, vẫn có những vị viết lại cái chỗ tri  kiến của mình để giúp cho hậu thế theo đó lần bước đi tìm Chân Lý, dưới nhiều hình thức khác nhau. Hoặc luận giải triết lý khô khan (Đại Thừa Khởi Tín Luận, Tuyệt Quán Luận v.v…) hoặc thơ văn (Chứng Đạo Ca của Huyền Giác..), nhưng tuyệt nhiên chưa thấy bậc Thánh Nhân đạt đạo nào làm quyển tiểu thuyết chỉ với mục đích tỏ bày tâm sự riêng tây. Người còn cái “riêng tây” thì có thể nào gọi được là Thánh Nhân trong đạo Phật chăng? Dù cho cái “riêng tây” đó là một cõi lòng, một “tâm sự”? Bởi vậy, nếu có bài văn, thơ nào mang những đặc tính của tiểu thuyết lâm ly, bi đát chăng nữa, thì theo thiển ý, đó cũng chỉ là một hình thức diễn đạt hàm chứa một nội dung đạo lý sâu sắc nào đó mà thôi. Hãy xem bài thơ “Vọng Lam Giang” của Tố Như tiên sinh qua bản dịch của Gs. Nguyễn Đăng Thục:
“Bờ lỡ như sấm dội           
Sóng cao tuồng ma quái,
Ta nhìn dòng sông Lam     
Tấc lòng thường áy náy.
Tưởng tượng như sẩy chân
Rơi chìm vào không đáy.
Làm sao người thế gian     
Nguy hiểm mà không thấy.
Kẻ đi cứ cuồn cuộn         
Người lại như nối đuôi.
Lòng trời vốn hiếu sinh         
Nhưng sao được thế mãi.
Ta muốn xô Thiên Nhận   
Trăm dặm thành đường cái.”
             (N.Đ.Thục, sđd)
    Mới đọc qua, ai cũng tưởng bài thơ diễn tả cảm xúc của Tiên Điền khi nhìn vực sâu của dòng sông Lam ở Hà Tĩnh quê nhà, nước chảy cuồn cuộn và xót thương kẻ bị sẩy chân rơi xuống đó. Song với những ai đã từng đọc các kinh Phật và biết qua một số nguyện lớn của các vị Bồ Tát – xin đừng chấp vào chữ mà chỉ xét theo nghĩa - đều có thể thấy rõ qua bài thơ, tác giả muốn nói lên lòng Từ Bi và ước nguyện của tiên sinh, một người đã thâm nhập giáo lý Đại thừa. Thực thế, Tiên Điền tưởng tượng cảnh “kẻ đi cuồn cuộn” như chúng sinh sáu cõi hết kiếp này đến kiếp khác, hết thế hệ này đến thế hệ khác, nối tiếp nhau đi mãi trong vòng sinh tử, tử sinh không dứt.., lỡ “sẩy chân rơi chìm vào không đáy” với biết bao “nguy hiểm mà không thấy” (đáy đó, nguy hiểm đó chính là cõi địa ngục nhiều đau khổ), thì “tấc lòng thường áy náy”. “Tấc lòng áy náy” đó không gì khác hơn là đức Từ Bi, là lòng thương xót đồng loại có thể sa hầm sụp hố, rơi vào chỗ “bờ lở như sấm dội” với “sóng cao tuồng ma quái”.
    Từ lòng thương xót đó, Tiên sinh khởi lên bi nguyện “muốn xô Thiên Nhận” (ngọn núi cao ở Hà Tĩnh) để biến “trăm dặm thành đường cái”. Theo ngôn ngữ đạo Phật thì có thể gọi nguyện đó là “biến cõi vô minh thành Tịnh Độ”. Tất cả những thứ nào là sông sâu, bờ lỡ, nào sấm dội, sóng cao… thực ra là “phóng ảnh” của những ý tưởng ác độc, xấu xa khởi lên từ chính trong lòng mỗi một chúng sinh. Biến “trăm dặm thành đường cái” cũng còn mang ý nghĩa “tâm bình thì thế giới bình”, bởi vì theo kinh Duy Ma Cật (Tịnh Danh): “Nếu tâm người thanh tịnh, sẽ thấy cõi này công đức trang nghiêm”.
    Ai đã đọc qua kinh Diệu Pháp Liên Hoa của nhà Phật đều cảm thấy kinh này chẳng có gì khó hiểu lắm. Cũng chỉ là những chữ, những nghĩa thông thường để mô tả những hiện cảnh có vẻ  rất kỳ thú lạ lùng! Chẳng hạn, các phẩm “Hiện Bảo Tháp” hay “Tòng Địa Dõng Xuất”, với hình ảnh các tháp, các vị Bồ Tát từ đất hiện lên. Còn phẩm “Dược Vương” trong kinh kể chuyện vị Bồ Tát phát nguyện “đốt cánh tay” mình để cúng dường Đức Phật, cháy lâu đến hằng bảy vạn hai ngàn năm. Tuy nhiên, mấy ai hiểu được ý nghĩa sâu kín đích thực của các ẩn dụ này? Chẳng thế mà Đức Phật đã tuyên bố : “…Pháp đó không phải là suy lường phân biệt mà có thể hiểu, chỉ các Đức Phật mới biết được đó thôi…” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, PHVQT - tr. 69)
    Những truyện Tàu như Tây Du Ký, hay truyện chưởng Tiếu Ngạo Giang Hồ và Cô Gái Đồ Long của Kim Dung, mà rất nhiều người trong chúng ta đã từng say mê đọc, thực ra mang nhiều ý nghĩa thâm sâu của giáo lý nhà Phật, chớ chẳng phải là những câu chuyện hoang đường, tưởng tượng để mua vui trong chốc lát.
    Sách chép lại, Khổng Tử tìm đến hầu chuyện Lão Tử xong ra về, thì được Lão Tử kề tai nói nhỏ một câu: “Đạo của ông như con mòng bay vo ve trong ghè vậy.” Khi trở về, môn đồ hỏi về cuộc tiếp kiến với Lão Tử, Khổng Tử đã tỏ ra bái phục, thốt lên: “Chim bay thì ta biết, cá lội thì ta hay, còn rồng vùng vẫy trong mây thì ta chẳng biết đặng dấu vết.” (Phương Lan và Bùi Thế Mỹ sưu khảo, Nguyễn An Ninh, Nhà Cách Mạng, Saigon 1970- tr. 352-353). Đó là điều xảy ra giữa Lão Tử (được người xưa coi là vị đại tiên, tôn xưng là Thái Thượng Lão Quân) và Khổng Tử, mà người đời xưng tụng là “Vạn Thế Sư Biểu” - vị Thầy dạy của muôn đời - mà sự hiểu nhau giữa người “thấp” với kẻ “cao” còn mịt mùng như thế, huống gì thế gian phàm tục chúng ta làm sao hiểu đúng được hành dụng của các bậc Giác. Đó là chưa nói tới các hành dụng khác thường gọi là “nghịch hạnh” của các vị  giác ngộ cao tột. Trong ý nghĩa cao thâm của giáo lý nhà Phật, phẩm Phật Đạo trong kinh Duy Ma Cật, Bồ Tát Văn Thù hỏi: “Bồ Tát thế nào là thông đạt Phật Đạo ?”, Ngài Duy Ma Cật đã dạy rằng: “Bồ Tát thực hành phi (trái) đạo là Bồ Tát thông đạt Phật đạo.”
    Chỉ có các bậc Bồ Tát đã tu chứng rất cao, mới có thể thực hành làm việc “phi đạo”, tức là làm “nghịch hạnh”. Bởi vậy mà Ngài Duy Ma Cật tuy có gia đình vợ con, làm ăn buôn bán to lớn, vào ra các chỗ ăn chơi bài bạc, nhưng trí huệ suốt thông sáu cõi, biện giảng giáo lý nhà Phật rất thông tuệ, tùy duyên mà hiện thế, chỉ với mục đích hóa độ giải mê cho người đời. Tế Công Hòa Thượng thường được gọi là Tế Điên tăng cũng như Nhị Tổ Huệ Khả không kiêng rượu thịt. Dưới con mắt phàm nhân chúng ta, hành động của các Ngài có vẻ dở khùng dở điên. Nhưng thực ra, các ngài là những vị Bồ Tát pháp lực cao thâm vô cùng, luôn luôn cứu người giúp đời. Đó là một trường hợp điển hình khác của Bồ Tát thực hành phi  đạo, làm nghịch hạnh.

TẠM  KẾT
Xét theo văn thơ chữ Hán và qua hành trạng của Nguyễn Du, chừng đó chứng liệu tưởng cũng đã khá đầy đủ để chúng ta có thể hình dung được Tiên Điền Nguyễn Du là một hành giả đạt ngộ trong đạo Phật. Nhất là từ một hướng tiếp cận khác, bằng cách tìm hiểu và luận giải qua tập khảo luận “Tiếng Lòng Của Nguyễn Du ”, Mai Hiền Lương cũng đã đi tới kết luận như thế, thì sự hình dung nói trên càng được xác quyết thêm một phần.
    Vậy thì, phải chăng nhà đại thi hào của chúng ta đã bị “oan uổng” khi hậu thế gán cho Cụ trong khi làm quan với Nhà  Nguyễn mà  vẫn  mang nặng nỗi lòng riêng tây hoài Lê? Và phải chăng, đây chính là chỗ mà tiên sinh đã phải thốt lên lời gởi gấm có tính cách tiên tri của một Thánh Nhân:
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
    Khóc cho Tố Như chẳng phải vì cảm thương con người tài hoa kia đã “bất đắc dĩ” phải làm quan với Vua Gia Long. Khóc cho Tố Như phải chăng vì Tố Như bị hậu thế gán buộc cho cái tội “ hoài Lê”, cái tội mà vị Hữu Tham Tri nhà Nguyễn có thể chẳng bao giờ phạm.
    Phải chăng, đó cũng là điều mà tác giả thiên khảo luận Tiếng Lòng của Nguyễn Du đã cảnh giác chúng ta rằng: “đừng bao giờ để Nguyễn Du lừa gạt” qua hai câu thơ trên bởi vì, theo Mai Hiền Lương, nhà đại thi hào của chúng ta đã tinh nghịch:
“ Khâm phục thay cư  sĩ  Nguyễn Du
 Đùa dai bỡn cợt kẻ phàm phu,
Yếm Kiều Phật pháp ông đem dấu,
Lại muốn người sau khóc Tố Như.”
    Nguyễn Du thương người, thương đời. Nguyễn Du chẳng cầu mong ai thông cảm, thương khóc cho mình. Bởi vì Nguyễn Du hẳn là một chí nhân, một đạt nhân, một thánh nhân rồi vậy !

* * *

Theo thiển ý, cái hay cái đẹp tuyệt vời của Truyện Kiều nằm ở chỗ mỗi người tùy theo cách nhìn, thế đứng, hoàn cảnh riêng của mình mà có thể chiêm ngưỡng và hiểu theo cách khác nhau. Có thể ví Truyện Kiều như viên ngọc quí, ở mỗi mặt đều nhìn thấy một màu sắc khác nhau. Nói nó muôn màu muôn vẻ là ở chỗ đó.

Nhà phê bình văn học được xem là sáng giá nhất hiện nay ở hải ngoại, ông Nguyễn Hưng Quốc đã viết đại ý trong tác phẩm  “ũNhận Định về Thơ ”õ của ông  (Quê Mẹ x.b.):
.. “ũ Mỗi bài thơ là một hệ thống mở: nó không ngừng hóa thân trong từng người đọc, thậm chí trong từng lần đọc.. Mỗi một cách giải thích mới lại làm cho nó phong phú hơn, giàu có hơn.....”õ Bài thơ còn thế huống gì một cả một tác phẩm thơ nguy nga tráng lệ như truyện Kiều ?

Tâm sự của Tố Như cũng bí hiểm như Truyện Kiều. Bởi thế, tác giả bài này không dám nhận đã hiểu đúng tâm sự của Người, mà chỉ có thể biết chắc một điều, năm nay (2005) chưa phải là ba trăm năm sau ngày Tiên Điền Nguyễn Du tạ thế. Vậy thì, khám phá về Nguyễn Du chưa thể dừng lại ở đây, và chắc chắn rằng còn nhiều khám phá kỳ thú hơn của các bậc thức giả, cao minh trong tương lai.  Bởi vậy cho nên, kẻ hèn này chỉ có thể nối điêu cùng nhà  biên khảo Mai Hiền Lương, mượn lời của Tiên Điền Nguyễn Du để kết thúc bài viết này: “Mua vui cũng được một vài trống canh”./.


GHI CHÚ:
•    (1) Hữu Tham Tri Bộ Lễ ngang hàng Thứ Trưởng Ngoại giao ngày nay. Dưới thờiụ quân chủ, Bộ Nghi Lễ rất quan trọng, coi luôn các vấn  đề đối ngoại.
•    (2) Chữ “trí” Nguyễn Duy Cần dùng trong câu trên chỉ là cái trí thế gian (thế trí) , tức là cái “thức” trong đạo Phật do suy luận, học hỏi mà có được. Còn chữ Trí trong câu kệ trên kia để chỉ một thứ trực quan, biết trực tiếp không qua suy luận, kinh nghiệm. Đó là Trí Tuệ của các bậc giác ngộ trong Đạo Phật, mà Thi Vũ Võ Văn Ái dùng danh từ là “Tuệ-Giác-Siêu-Việt”, tức là Trí Bát-Nhã/ Prajnã.
•    (3) Theo kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy các đệ tử không được xưng danh vị khi tu chứng. Tuy nhiên, tùy cơ tùy thời mà Phật dạy khác nhau như tùy bịnh mà cho thuốc, chứ kinh Phật không chứa đựng chân lý bất biến trong đó. Đối với một vị đã thực sự chứng ngộ, thì vị đó cũng tùy cơ, tùy thời mà xưng danh vị hay không, bởi vì vị đó tự “biết rõ” phải làm gì, và đã là “tự tại, vô ngại” thì không một khuôn khổ nào bó buộc được vị đó, kể cả giới luật” (xin xem kinh Duy Ma Cật - phẩm Phật Đạo) là điều mà Phật luôn luôn căn dặn: “Khi Ta diệt độ, phải lấy giới luật làm thầy.”
•    (4) Theo Đại Đức Trí Siêu, trong tác phẩm “Vô Ngã”, Tam Pháp Ấn gồm Vô Thường, Khổ, Vô Ngã. Tuy nhiên, theo Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh, trong băng ghi âm Tam Pháp Ấn, đứng trên quan điểm đại thừa thì Tam Pháp Ấn là Không, Vô Tướng, Vô Tác”.
•    (5) Hiện nay, có lắm người chưa đạt ngộ vẫn lạm dụng đoạn kinh trên để làm điều bất chánh mà gọi là phá chấp, làm nghịch hạnh. Việc đó xin miễn bàn ở đây.