"Sung" chưa hẳn đã "sướng"



 Trần Sĩ Chương
(Tết Ất Dậu )  

 Vào tháng 4/2004, nhóm nghiên cứu quốc tế World Value Survey (WVS) - gồm các nhà xã hội học của nhiều đại học hàng đầu trên thế giới - đã công bố kết quả của một cuộc khảo sát về ảnh hưởng tương quan giữa phát triển kinh tế và điều kiện xã hội, chính trị, văn hóa của mỗi dân tộc. 82 quốc gia được khảo sát, trong đó có Việt Nam. Từ khi kết quả của cuộc khảo sát này được công bố, hơn 400 cuốn sách đã được viết thêm về đề tài này. Hầu hết các tạp chí nghiên cứu khoa học, xã hội, kinh tế, chính trị tầm cỡ trên thế giới đều có đăng bài thảo luận, kể cả những diễn đàn phổ thông có uy tín như báo Newsweek (Mỹ), New  Scientists và BBC (Anh). Lý do là vì những thông tin từ công trình khảo sát này phần lớn đều gây bất ngờ, và có khả năng ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ, tính toán của các nhà lãnh đạo chính trị, các nhà kinh tế, các nhà nghiên cứu xã hội học, trong định hướng vĩ mô phát triển kinh tế xã hội.

 Trong lĩnh vực xã hội, cuộc khảo sát đã: 1) Đo lường tỷ lệ người dân cảm thấy sung sướng, hạnh phúc (happy) ở mỗi nước; 2) Đo lường tỷ lệ người dân cảm thấy có thể chấp nhận được (satisfied) với hoàn cảnh hiện tại của họ. Sau đó điểm số trung bình (tổng hợp tỷ lệ “hạnh phúc” và “thỏa mãn”) được xếp hạng (Hình 1) và đối chiếu với mức độ thu nhập đầu người tính theo sức mua tương đối (PPP-Purchase Power Parity) của Ngân hàng Thế giới như được trình bày trên Hình 2, trên đó điểm A tương đối là điểm tối ưu.

Hình 1.  Bảng xếp hạng theo mức độ cảm nhận hạnh phúc, thỏa mãn.
(dựa trên các chỉ số kết hợp của sự hạnh phúc và hài lòng trong cuộc sống)

1.       Puerto Rico
2.       Mexico
3.       Đan Mạch
4.       Ailen
5.       Iceland
6.       Thụy Sĩ
7.       Bắc Ailen
8.       Columbia
9.       Hà Lan
10.     Canada
11.     Áo
12.     El Salvador
13.     Venezuela
14.     Luxembourg
15.     Mỹ
16.     Úc
17.     New Zealand
18.     Thụy Điển
19.     Nigeria
20.     Na Uy
21.     Bỉ
22.     Phần Lan
23.     Ả Rập Saudi
24.     Singapore
25.     Anh
26.     Tây Đức
27.     Pháp
28.     Argentina
29.      Việt Nam
30.      Chi Lê
31.      Philippines
32.      Đài Loan
33.      Cộng hòa Dominic
34.      Brazil
35.      Tây Ban Nha
36.      Israel
37.      Italia
38.      Đông Đức
39.      Slovenia
40.      Uruguay
41.      Bồ Đào Nha
42.      Nhật
43.      Cộng Hòa Séc
44.      Nam Phi
45.      Croatia
46.      Hy Lạp
47.      Peru
48.      Trung Quốc
49.      Hàn Quốc
50.      Iran
51.      Ba Lan
52.      Thổ Nhĩ Kỳ
53.      Bosnia
54.      Morocco
55.      Uganda
56.      Algeria
57.       Bangladesh
58.       Ai Cập
59.       Hungary
60.       Slovakia
61.       Jordan
62.       Estonia
63.       Serbia
64.       Tazania
65.       Azerbaijan
66.       Montenegro
67.       Ấn Độ
68.       Lithunia
69.       Macedonia
70.       Pakistan
71.       Latvia
72.       Albania
73.       Bungari
74.       Belarus
75.       Georgia
76.       Romania
77.       Moldova
78.       Nga
79.       Acmenia
80.       Ukraina
81.       Zimbawe
82.       Indonesia
 
Hình 2


CTA: Tỉ suất ngang bằng sức mua, 1995 USD, số liệu Ngân hàng Thế Giới.

Nghèo mà sướng

 Trong một cuộc khảo sát khác xếp hạng mức độ sung sướng, hạnh phúc (happy) của 82 nước nói trên , năm nước đứng đầu bảng theo thứ tự là Nigeria, Mexico, Venezuela, El Salvador, Puerto Rico. Thật đáng ngạc nhiên!

 Nigeria tuy có dầu hỏa nhưng là một nước nghèo, đang có chiến tranh, thu nhập đầu người (theo PPP của Ngân hàng thế giới) chỉ xấp xỉ 2,000USD/năm. Bốn nước kia đều ở Trung và Nam Mỹ, cũng không phải là những nước phát triển, ngoại trừ Puerto Rico là một thuộc địa của Mỹ. Vậy mà người dân ở những nước này cảm thấy sung sướng hạnh phúc hơn cả Mỹ (hạng 15), Anh, Pháp, Nhật, Đức, Ý… là những nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới! Ở Á châu, người Philippines, người Trung Quốc, người Việt Nam cảm thấy hạnh phúc, sung sướng hơn người Hàn Quốc, Nhật Bản.

 Có phải là khi còn nghèo thì cuộc sống đơn giản, điều kiện sống bị hạn chế hơn nhưng đồng thời nhu cầu cuộc sống cũng không cao, dễ thỏa mãn hơn với cái gì mình có, và rồi cảm thấy thoải mái hơn? Một số nhà nghiên cứu tâm lý xã hội khác cũng đã xác nhận đây là tâm lý chung của con người vì hạnh phúc tùy thuộc phần lớn vào sự chấp nhận cái gì mình có chứ không phải sự ham muốn mình được ở một vị trí nào khác (“Happiness is being where one is and not wanting being somewhere else”). Đó là chưa kể theo đuổi thỏa mãn vật chất là một sự áp chế hạnh phúc (“happiness suppressant”).

 Các nhà nghiên cứu WVS cũng đã đưa ra những kết luận cho thấy cảm nhận hạnh phúc, sung sướng tùy thuộc phần lớn (46-52%) vào cái “gene” của mỗi người nói riêng và của mỗi dân tộc nói chung, trong đó văn hóa xã hội truyền thống là một yếu tố chính. Vì vậy các nước châu Mỹ La tinh dễ hạnh phúc hơn nhờ vào bản chất xuề xòa, vui tính của họ. Các nước Bắc Âu luôn có chỉ số hạnh phúc cao hơn Pháp, Ý, Đức, Bồ Đào Nha…. Kế đến là yếu tố lịch sử. Các yếu tố khác như nghề nghiệp, địa vị xã hội, giáo dục giới tính, thu nhập… cũng chỉ là tương đối. Yếu tố kinh tế chỉ quyết định 4% cảm nhận hạnh phúc. Tuy nhiên cái 4% này lại trở thành quan trọng vì hoàn cảnh kinh tế có thể thay đổi được để cải thiện điều kiện sống tối thiểu của con người, đặc biệt là ở những nước đang nghèo, trong khi cái gene và bản chất văn hóa xã hội khó có thể thay đổi được trong một thời gian ngắn. Như vậy định hướng phát triển kinh tế phải như thế nào để đạt được mức tối ưu cho sự ổn định xã hội, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc mưu cầu hạnh phúc của người dân?

Giàu nhưng không sướng

 Ngạc nhiên với kết quả của cuộc khảo sát này, các nhà nghiên cứu sau khi tìm hiểu thêm đã thấy rằng người dân ở các nước phát triển có độ “thỏa mãn” tương đối cao, họ có nhu cầu cao nhưng họ cũng có khả năng thỏa mãn nhu cầu của họ hơn người dân ở các nước có thu nhập thấp hơn. Họ có điều kiện theo đuổi các ước muốn, vật chất cũng như trong công việc. Họ được thỏa mãn, không bức xúc với điều kiện sống, tuy rằng tương đối cảm thấy không được “sướng” và không có được sự thoải mái tinh thần so với mức thu nhập cao của họ. Con người luôn muốn được thỏa mãn. Càng được thỏa mãn thì lại càng có thêm nhu cầu mới cần được thỏa mãn hơn. Nhưng cái sướng từ thỏa mãn vật chất, từ đồng tiền không được  lâu dài, và càng có nhu cầu cần được thỏa mãn lại càng có nguy cơ bị thất vọng, mất hạnh phúc.

 Biểu đồ số 2 cho thấy ở những nước có thu nhập đầu người dưới 6,000USD/năm, nếu giàu thêm được 1 thì cảm thấy được sung sướng, thỏa mãn hơn 20 lần; trên mức 6,000 USD/năm thì có giàu thêm bao nhiêu cũng không tăng mức độ cảm nhận thỏa mãn, hạnh phúc bao nhiêu cả. Hầu hết ở các nước phát triển chỉ số hạnh phúc của người dân không thay đổi đáng kể trong vòng ba thập niên trong khi thu nhập của họ đã tăng hơn gấp đôi trong thời gian này. Như vậy có phải đây là điểm nên biết là đủ để tập trung phát triển phần phẩm của xã hội (hạnh phúc, thỏa mãn) hơn là phần lượng (tăng trưởng GDP thuần túy) hay không?

Việt Nam cần phát triển chất lượng

 Trọng tâm của mọi chính sách kinh tế, chính trị, xã hội thật sự chỉ để thỏa mãn hai mục tiêu chính: củng cố giá trị chính thống của hệ thống cơ cấu chính trị, xã hội; và để từ đó có được sự ổn định. Cả hai mục tiêu này có giá trị hỗ tương và chỉ được thỏa mãn nếu người dân cảm  thấy nhu cầu sống của họ tương đối được thỏa mãn và đa số người dân chấp nhận giá trị chính thống của xã hội họ, chứ không phải chỉ được  giàu có hơn. Việt Nam có vị trí tương đối cao theo kết quả của cuộc khảo sát này, trong đó 2/3 trong số 1.000 người được khảo sát trong nước cho biết họ có thể nói là thỏa mãn với hoàn cảnh hiện tại, mặc dù thu nhập đầu người ở Việt Nam hiện nay chỉ mới ở mức 1.500USD một năm tính theo sức mua tương đương (theo báo cáo của WVS năm 2000; mới đây một số báo cáo cho biết Việt Nam có thể đã đạt được mức 2.800USD một năm?). Để đến được vị trí tối ưu trên biểu đồ số 2, khoảng 6.000USD trên đầu người mỗi năm (đó cũng là mức thể hiện mức độ hạ tầng cơ sở cơ bản cần có để làm bàn đạp cho sự phát  triển bền vững), Việt Nam cần phải tích cực nỗ lực đầu tư hợp lý hơn để tăng trưởng nhanh, đồng thời có định hướng đầu tư đúng để nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Các nước phát triển có độ ổn định chính trị xã hội cao là nhờ người dân có độ thỏa mãn cao với điều kiện đòi hỏi của họ.

 Tăng trưởng kinh tế chỉ là một phương tiện, và giá trị chính của tăng trưởng phải là phẩm, chứ không là lượng. Từ đó bất cứ một đầu tư nào cũng cần phải thỏa mãn được hai tiêu chuẩn: a) về mặt kinh tế, đầu tư này có xứng đáng với chi phí cơ hội (có tỷ lệ lợi nhuận cao nhất có thể có) so với các đầu tư khác hay không? và b) Về mặt chính trị, xã hội, đầu tư này có góp phần xây dựng hạ tầng cơ sở kinh tế xã hội, giúp người dân cảm thấy thoải mái, thỏa mãn hơn với đời sống của họ hay không?

 Một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cho rằng Việt Nam trong thời gian qua đã có một số chương trình đầu tư rất lớn nhưng không hiệu quả (nhà máy đường, cảng, nhà máy lọc dầu…). Những đầu tư này có lượng (số tiền đầu tư lớn, làm tăng GDP nhất thời) nhưng không có phẩm (lợi nhuận thấp so với chi phí cơ hội, không có giá trị phát  triển bền vững, lãng phí tài nguyên thay vì được sử dụng vào các chương  trình phát triển hạ tầng cơ sở, xã hội, hoặc các chương trình có hiệu quả kinh tế cao hơn).

 Một số ý kiến khác nhấn mạnh vai trò đặc thù của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư: Nhà nước không nên đặt ưu tiên tham gia vào các dự án đầu tư kinh tế mà nên tập trung hơn đầu tư vào hạ tầng cơ sở xã hội (y tế, giáo dục, hành chính, luật pháp…). Nếu có đầu tư kinh tế thì cũng phải đạt được hai tiêu chuẩn nói trên và có sách lược tái đầu tư lợi nhuận một cách hiệu quả vào hạ tầng cơ sở xã hội, đặc biệt là những đầu tư cần thời gian dài mới có kết quả và đem đến cái lợi chung cho toàn xã hội. Giáo dục và y tế là thí dụ cụ thể. Đầu tư vào con người dứt khoát là một đầu tư thiết yếu và có lợi lớn nhất trong công tác phát triển kinh tế, xã hội. Song song với con người là môi trường xã hội (hệ thống giao thông, luật pháp, hành chính, môi trường thiên nhiên…). Nhưng đầu tư lâu dài vào con người và môi trường sống không có lợi rõ ràng và nhất thời, thì đây là trọng trách và ưu tiên của Nhà nước. Hạ tầng cơ sở xã hội tốt sẽ giúp xã hội đầu tư hiệu quả hơn, phát huy đúng mức nguồn lực con người, tiết kiệm được tài nguyên thiên nhiên kinh tế, giảm thiểu rủi ro tụt hậu, và là đòn bẩy lợi hại cho nỗ lực phát triển kinh tế.