DU  LỊCH  VĂN  HÓA  NHÀ  VƯỜN

TRẦN-SĨ-HUÂN


          Năm 2000, do sự giới thiệu của Trung-Tâm Văn-Hóa Á-Châu ở Oakland, bà Kimberlee Stringer ở San Francisco, Giám Ðốc một hảng Kiến-Trúc Tạo-Hình đã đến gặp tôi để nhờ tôi tìm giùm một số Kiến-Trúc-Sư hoặc nhân vật chuyên về Du-Lịch Văn-Hóa Nhà Vườn còn gọi là Du Lịch Khám Phá Nghệ-Thuật Sống ở Ðịa Phương. Như chúng ta đã biết, ngoài phần du lịch lịch sử, Huế còn có thêm các phần du lịch cảnh quan, du lịch sanh thái, du lịch phong tục, du lịch kiến trúc, du lịch nghệ thuật, du lịch nông nghiệp và du lịch văn hóa nhà vườn.
          Hảng Kimberlee Stringer Design, Landscape Architecture ở số 1736 đường Stockton, San Francisco, CA 94133 do bà Kimberlee đứng ra thành lập và soạn thảo dưới sự bảo trợ của Graham Foundation và của Art Museum of San Francisco một tài liệu mang tên là “Listening to the past: The Gardens of Imperial Hue, Viet-Nam”.
          Bà tự giới thiệu: Là một Kiến-Trúc-Sư vườn cảnh và sử gia nhà vườn, tôi đã trải qua ba (3) năm (1995-1998) làm việc cho một dự án Huế và đã đi thăm Huế và Hà-nội cũng như một số vấn đề về các dự án lịch sử đương thời cho cả hai thành phố trên. Tôi có tham dự một Hội Luận “Bảo tồn những thành phố củ: Hanoi”, và đã thảo luận về khả năng  Tái Thiết các nhà vườn ở Huế với chính quyền địa phương. Tháng 10 năm ngoái, tôi được mời tham dự thuyết trình tại Ðại Hội Ðồng thường niên tại Hội Kiến-Trúc-Sư vườn cảnh Hoa-kỳ về ảnh hưởng của nhà vườn dưới áp lực của nền kinh tế thứ ba đương lên. Tôi lưu ý đến các nhà vườn đó khi tôi được yêu cầu thiết lập một dự án trường học cho trẻ em sống trên các chiếc đò ở trên sông Hương. Tôi đi thăm Huế thời đó và mới về Huế lại để nghiên cứu và viết về gia tài nhà vườn Huế, đồng thời để phát triễn dự án xây trường. Do sở thích nghề nghiệp, những chuyến đi về Việt-Nam và những bài thuyết trình của tôi đã có nhiều người ủng hộ. Một số nhân vật chính quyền Huế, nhân viên Hoàng gia, những nhà Học giả ở Hoa-Kỳ và hải ngoại đã tỏ lòng tin rằng các cố gắng bảo tồn và gìn giữ lịch sữ nhà vườn Huế là quan trọng và đúng lúc.
          [A landscape architect and garden historian, I have spent the last three years (1995-1998) working on a site design in Hue and have visited Hue and Hanoi as a consultant on contemporary and historic design matters in both cities. I have participated in a symposium “The preservation of ancient cities: Hanoi “and have discussed the potential for restoration of Hue’ s garden with Hue government officials. Last October, I was invited to speak at the annual convention of the American Society of Landscape Architects about the impact on Hue’s garden under the pressures of an emerging third economy. My interest in these gardens began when I was requested to do a site design for a contemporary school for children who had been living on boats on the Perfume River. I visited Hue at this time and have returned to Hue since both to study and write about Hue’s garden heritage as well as to develop the school site design. Because of my professional interest, my trip to Viet-Nam, and my lectures I have met a surprising number of supporters. A number of government officials in Hue, members of the royal family, scholars in the US and abroad have expressed to me their belief that effort to protect and preserve Viet-Nam’s historic gardens are important and timely…]
     
Về lý do việc nghiên cứu, bà đã giải thích: Mục đích việc nghiên cứu của tôi là mở đầu cho những nghiên cứu về sau. Người Mỹ biết rất ít về Việt-Nam, đặc biệt về văn-hóa cổ truyền. Nhà vườn Huế cho chúng ta một cái nhìn hiểu biết về văn hóa Việt-Nam. Thiết tưởng cần có một sự tìm hiểu vấn đáp vì đây là cố gắng đầu tiên trong hạ bán thế kỷ thứ     20 của bất cứ người Tây phương nào muốn tìm hiểu truyền thống Việt-Nam qua gia tài nhà vườn. Quyết định bắt đầu loại nghiên cứu bằng vấn đáp là do nhiều yếu tố: Số người biết về các nhà vườn ấy và ý nghĩa truyền thống đã lớn tuổi. Ý muốn của chính quyền Việt-Nam muốn mở cửa đón mời những nhà học giả Tây phương.
Cái nhìn thấy của chính quyền Việt-Nam về nhà vườn có thể hấp dẫn du khách Tây phương và sự tái lập niềm tự hào của họ trong các giá trị truyền thống đã bị bỏ quên qua nhiều thế hệ ở Việt-Nam.
          (My work is intended to initiate future scholarly research. We know so little about Viet-Nam, particularly about its traditional culture. Hue’s garden offer one of the most significant avenues towards understanding Vienamese traditional art and culture. Frequently an oral history occurs in the later part of an historical inquiry. However this is the first effort within the second half of the 20th century of any Westerner to understand traditional Viet-Nam through its garden heritage. The decision to begin such study with an oral history was made due to several factors: The aging population of those who personally know these garden and their traditional meanings create a dwindling pool of persons with direct reference to the past. A growing willingness of the Vietnamese government to open its doors to western scholars. The awareness of the government to see gardens as a potential draw to Western tourist. And a resurging pride in traditional values that had been suppressed for several generations in Viet-Nam).

          Sau đó bà đã cho biết những người đã  được giới thiệu là các ông:
-    Bữu Hoan, nhân viên Hoàng tộc.
-    W. Bach, Cố vấn Văn Hóa và Tin Tức Tòa Ðại-sứ Hoa-Kỳ, Hà-nội.
-    Chương Trần, Giám Ðốc Trung-Tâm Văn Hóa Á Châu, Oakland.
-    Ms. Patricia O’ Donnell, ASLA Open Committee on historic landscapes.
Tiếp theo bà cho biết bà được giới thiệu đến đây là vì nghe đâu ông là người sinh ra ở Huế, lại có nhận chức vụ Trưởng Ty Công-Chánh kiêm Kiến Thiết một thời gian. Nếu ông biết được những gì liên quan đến vấn đề ấy, thì mong ông sẽ giúp đở được phần nào hay phần ấy. Tôi liền ngắt lời bà ấy ở đây và trả lời như sau:
Thật sự lúc đó tôi chỉ kiêm nhiệm chức vụ Trưởng Ty Kiến-Thiết Huế được một năm, sau đó giao lại cho ông Kiến-Trúc-Sư Hồ-Ðắc-Cáo phụ trách. Hiện ông Cáo đang ở South Carolina, nếu bà cần chi tiết gì thêm tôi sẽ liên lạc giới thiệu giùm bà với ông Cáo.
 Sau một thời gian, ông Cáo đã trả lời cần gặp các ông Kiến-Trúc-Sư Nguyễn-Bá-Lãng, 95 tuổi, nguyên Giám-Ðốc Sở Tu-Bổ các di tích và vườn cảnh ở Huế, Tiến-Sĩ Thái-Văn-Kiểm, Viện-Sĩ Hàn-Lâm-Viện Pháp quốc, chuyên viên nghiên cứu các vấn đề lịch-sữ ở Cố-Ðô Huế, Cụ Ưng Thi, ông Bữu Hoan, là những người con cháu có nhà vườn ở Huế, và biết chuyện đó nhiều.
            Sau đó bà Kimberlee về Huế và có những cuộc phỏng vấn tại nhà vườn với các nhân vật sau đây:
          Tại Lạc-Tịnh-Viên với bà Khánh Nam.
          Tại Vườn Công Chúa Ngọc Sơn Tự với ông Phan-Thuận-An.
          Tại Vườn An Hiên với ông Nguyễn-Ðình-Châu.
          Tai Vườn Sum Viên với ông Nguyễn-Hữu-Thông
          Tai Vườn Tịnh Phố, đền thờ Tuy-Lý, với ông Bữu Chấp, Bữu Ý, và bà Hiệp Vân.
Ngoài ra bà còn phỏng vấn các KTS Nguyễn-Bá-Lãng, ông Ưng Thi, ông Bữu Hoan, TS Thái-Văn-Kiểm ở Paris.
          Bà Kimberlee chia vườn cảnh ở Huế ra làm ba (3) thể loại: Vườn cảnh Lăng Tẩm (Royal Tomb complex), vườn cảnh Ðại-nội (Imperial Court) và vườn cảnh tư nhân (Private garden) của mấy ông quan xưa và của các gia đình giàu có, tất cả thể hiện một tình yêu thiên nhiên phản ảnh nền văn hóa dân tộc, dưới ảnh hưởng của Nho giáo, Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo. Ngoài bản nghiên cứu dày 250 trang, bà còn kèm theo các cuốn băng ghi âm, thâu các cuộc đàm thoại và phỏng vấn các nhân vật kể trên bằng hai thứ tiếng Anh, Việt, lưu trữ tại thư viện chính của San Francisco.
          Thật là một công trình đáng khích lệ, nhất là đối với một người ngoại quốc đã bỏ công lao tìm hiểu văn hóa cố đô Huế mà ngay chính chúng ta cũng ít người nghĩ đến. Do đó năm 2002, trong một chuyến đến Huế, tôi đã cùng người bạn đi thăm viếng các nhà vườn đã được bà Kimberlee giới thiệu để kiểm chứng những điều đã đọc được trong tài liệu của bà và để thấy tận mắt cảnh quan được ca tụng như là tượng trưng cho một khía cạnh của nền văn hóa cố-đô mà tôi đã từng đi ngang qua hoặc từng vào xem nhưng không để ý đến các chi tiết.
          Theo dư luận thì từ năm 1995, người ta đã nghĩ đến vấn đề nghiên cứu khía cạnh văn hóa nhà vườn để đưa vào chương trình khai thác ngành du-lịch vì lúc này Huế đang gặp những khó khăn và thách thức, vừa phải giữ gìn bản sắc văn hóa và những giá trị truyền thống, vừa phải biến chuyển để hòa nhập thích ứng với nền kinh tế thị trường, thành thử Huế phải tìm lại chính mình, văn hóa vườn Huế cũng nằm trong sự thách thức, trăn trở đó. Như nhiều người đã biết, đối tượng tham quan du lịch có nhiều hạng. Có người đi du lịch để thưởng ngoạn cảnh sắc đẹp đẽ, thơ mộng và mới lạ của địa phương, các vùng địa lý cùng với những kỳ hoa dị thảo. Có người muốn thưởng thức những sản phẩm hoa thơm, quả ngọt, các món ăn đặc sản Huế. Có người muốn tìm hiểu những giá trị nghệ thuật, công trình kiến trúc, sản phẩm mỹ nghệ đặc sắc của vùng Huế. Có người muốn tìm hiểu kỹ thuật trồng cây ăn quả, hoa kiểng, tiêu cảnh, non bộ, kinh nghiệm nuôi dưỡng và thú chơi chim cảnh, cá cảnh của các nghệ nhân địa phương. Nhà vườn Huế với nhiều loại hình có thể đáp ứng nhu cầu du lịch đó.
          Tôi bắt đầu đi thăm một vài loại vườn vừa nêu trên. Trước hết, tại Lạc-Tịnh-Viên, số 65 đường Phan-Ðình-Phùng, Bến-Ngự, khi bước vào cổng chính xây bằng gạch có mái che lợp ngói, tôi thấy có hai câu đối bằng chữ Hán:
          “Trúc lý thanh ngâm văn đẳng đệ,
           Hoa viên tản bộ kiến hồ sơn.”
Dịch ra là:
          “Khóm trúc ngâm thơ vang gác tía,
           Vườn hoa dạo bước ngắm ao con.“
Lối đi vào nhà ở giữa hai hàng chè tàu thẳng tắp. Trước sân có bức bình phong, có bể cạn với hình non bộ, cá cảnh nhởn nhơ bơi lội trong hồ. Chung quanh nhà thờ và nhà ở là  vườn rộng trồng cây để vừa có trái ăn, vừa che bóng mát. Ở dưới gốc các cây lớn, trồng đủ loại hoa cảnh và các loại cây thuốc như rau Diếp Cá… làm thành một thứ vườn tạp để vui thú điền viên, chứ không như trong Nam, các nhà vườn thường trồng một thứ cây ăn trái như chôm chôm, măng cụt, để buôn bán làm ăn. Phía sau là hàng rào tre dày với vài khóm trúc, bờ cây, cỏ gai…
          Ðứng trước hòn non bộ, ai cũng trầm trồ khen đẹp nhưng không rõ ý nghĩa nên ông Trần Dũng, một nghệ nhân về vườn cảnh sẵn có mặt ở đó đã giải thích: Lối chơi non bộ phát xuất từ chốn cung đình để Vua thưởng ngoạn, các Quan học cách chơi của Vua đem ra ngoài tư dinh và Dân bắt chước. Non bộ là một quần thể giang sơn thu hẹp non nước hữu tình với đủ núi rừng, hang động, chùa tháp, khe suối, cỏ cây và cả những sinh hoạt của con người với những hình ảnh điển tích “ngư, tiều, canh mục, đào viên, chốn bồng lai tiên cảnh“. Ðể cho non bộ có sức gợi cảm trong tâm hồn người thưởng ngoạn cảnh trí thì nghệ nhân đắp non bộ phải hiểu quy luật phóng tác và phải tránh ba (3) điều sau đây: Thứ nhất  là “bất xuyên tâm“, thứ hai là “bất kim đấu“, thứ ba là “bất triệt lộ“, có nghĩa là “tâm núi không được xuyên thủng, đỉnh núi không được nhọn, núi phải có đường đi không bế tắc“. Ðường mòn của non phải là “cỏ đan lối mục, rêu phong dấu tiều“. Non có nghĩa là núi, Bộ là sự bài trí, sắp đặt hài hòa theo từng bộ như “Ngư tiều canh mục“, “Bá nha tử kỳ”, “Cầm kỳ lữ vọng“. Về cây cảnh, cũng có bộ “Sung mãn quan quý“, “Tùng bá liễu mai“. Cây trồng trên non bộ là cây có dạng uốn cong và một số rêu cỏ. Lồng vào trong đó là những ống dẫn nước có thiết bị dầu phun sương ra như làn khói lam chiều hay những áng mây mỏng chờn vờn trên núi . Ða số non bộ làm bằng đá san hô là loại đá dễ hấp thụ nước để nuôi cây, để tạo nên những mảng rêu xanh mát mắt. Tất cả tạo thành một cảnh trí hữu tình, non xanh nước biếc như tranh họa đồ, có chiều sâu phong thuỷ và phải có hồn. Nghệ nhân phối hợp thế nào mà người thưởng ngoạn đứng ở góc độ nào cũng nhìn thấy cảnh riêng hữu tình khi dạo chơi quanh hồ, lòng người trở nên thanh thản nhẹ nhàng, gợi lại những kỷ niệm đẹp xưa….
          Trước khi ra về, tôi được biết người quản-lý nhà vườn này là bà Khánh-Nam, vào khoảng 75 tuổi. Bà là giòng dõi của cụ Hồng Khang, chắt của cụ Miên Thẩm, hoàng-tử thứ mười của vua Minh-Mạng. Chính cụ Hồng Khang đã tạo lập Lạc-Tịnh-Viên này vào năm 1889. Hai cụ Hồng Khang và Ưng Trình là Thượng Thư phụ tử đồng triều, một trường hợp ít có ở nước ta. Bà nội của bà Khánh Nam là cụ bà Trương Ðặng Thị Bích là tác giả cuốn sách “Thục phổ bạch thiên“ được xem là cuốn sách dạy nấu ăn bằng thơ đầu tiên ở Huế….
          Sau đó chúng tôi đi Kim-Long và đi Gia-Hội xem các vườn nhà của bà Nguyễn đình-Chi và của Công Chúa Ngọc Sơn, nhưng các quản gia đi vắng nên chúng tôi đi dạo một vòng, thấy đại khái các vườn đều có kiến trúc tổng thể tương đối giống nhau.
          Về mặt dân sinh, ai đến Huế thấy mở mang nhiều cao-ốc, khách-sạn cũng mừng cho mảnh đất cày ra sõi đá này, nhưng trong thực tế đa số dân Huế và phụ cận vẫn còn nghèo, quá nghèo. Ngay cả các nhà vườn được liệt vào hạng du lịch văn-hóa thì ngoài một vài nơi nguyên vẹn, còn đa số kiến trúc xưa đã bị đổ nát vì không có tiền sửa chửa hoặc được tu bổ thì còn nguyên dạng, đồ trang trí nội thất bị tháo gỡ, cầm bán hoặc thất lạc. Một số chủ nhà vườn thì chia đất bán cho chủ khác xây cất bừa bãi. Thật ra Huế đã xin trực thuộc hành chánh với Trung Ương để có thêm ngân sách yểm trợ các công tác dân sinh nhưng chưa có kết quả.
          Viết lại mấy dòng này, tôi như kẻ “rờ voi“ ngày xưa, nghe thấy gì thì ghi lại chứ không thể hiện được đầy đủ mọi khía cạnh của Cố-Ðô Huế trong một thời gian ngắn ngủi…
” Người xứ Huế trang nghiêm và thầm lặng.
             Thường hay sầu trong lúc thế nhân vui…
             Tâm sự nhiều mà ít hé trên môi …”  (thơ của Trần-Bich-Lan)
nên tôi không muốn kể thêm chuyện dài dòng lôi thôi, mong quý độc giả thông cảm./.                                                          

TRẦN-SĨ-HUÂN