Lượm Lặt

Trần Sĩ Huân

Chuyện thứ nhất:

Hồi thời Tây, chữ " Công Chánh" dịch ra từ tiếng Pháp "Travaux Public". Nhân viên làm đường gọi là lục lộ; những người nào sính nói tiếng Tây theo giọng Huế thì nói là mấy ông "Tạp Bô" (tức là chữ Travaux nói trẹ lại). Khi thấy mấy ông lục lộ dãi dầm mưa nắng để sửa đường, sửa cống dân Huế mới có câu hò sau đây để tán thưởng:

Thương thay mấy chú "tạp bô"
Đầu đội nón đỏ, nắng mưa vẫn làm ...

Ngày xưa Tây cho cu-li lục lộ đội nón đỏ là để cho dễ nhìn thấy và phân biệt với cu-li thường, giống như ngày nay nhân viên công chánh mặc áo cánh màu cam (orange) khi đi công tác.
(Trích Từ Điển Tiếng Huế của BS Bùi Minh Đức)

Chuyện thứ hai: Nổi lòng người thi sĩ kháng chiến.

Sau 30 năm theo kháng chiến (1945-1975) và sau 10 năm trở về chốn cũ,  trước khi nhắm mắt người thi sĩ xứ Huế đã để lại cho hậu thế bài thơ sau đây:

"Bao năm ngậm ngải tìm trầm
Giã từ quê mẹ xa dòng sông Hương
Bạc đầu mới biết lạc đường
Tay không nay lại vẫn hoàn tay không
Mộng làm giọt nước ôm sông
Ôm sông chẳng được, tơ lòng gió bay."

Thanh Tịnh

Chuyện thứ ba: Đối đáp văn chương

Ngày xưa mấy ông Tàu tự hào với văn chương thi phú của họ nên đi đâu cũng đêm thơ văn ra đấu trí, không ngờ qua Việt Nam bị phỏng lửa nhiều trận. Trong số đó, có câu chuyện sau đây. Họ bảo họ có Tứ Khoái   theo thứ tự sau:

1. Đại hạn phùng cam vũ
2. Tha hương ngộ cố tri
3. Động phòng hoa chúc dạ
4. Kim bảng quý danh đề.
Có nghĩa là:

1. Hạn lớn mà gặp mưa rào (là khoái thứ nhứt)
2. Đi xa quê nhà mà gặp bạn cũ (là khoái thứ hai)
3. Ngày cưới đêm động phòng (là khoái thứ ba)
4. Bảng vàng có đề tên mình (là khoái thứ tư).

Mấy ông đồ Nghệ Tĩnh Việt Nam thời đó có tiếng hay chữ mới đáp lễ như sau: Việt Nam không có tứ khoái mà có (4) Tứ Bất Khoái, đó là:

1. Diêm điền đại hạn phùng cam vũ.
2. Đào trái tha hương ngộ cố tri.
3. Thái giám động phòng hoa chúc dạ.
4. Phế nhân kim bảng quý danh đề.
có nghĩa là:

1. Ruộng muối mà gặp mưa thì chảy tan hết.
2. Mắc nợ chạy trốn xa quê mà gặp lại bạn chủ nợ.
3. Thái giám mà động phòng thì chả làm ăn gì được.
4. Người tàn phế thì tên có ghi bảng vàng cũng không ích gì.

Sau nầy, Việt Nam cũng có tứ khoái nhưng nôm na quá, viết ra không tiện, xin chờ dịp khác.
(viết theo khẩu truyền).

Bổ-túc Câu chuyện thứ ba trong mục  Lượm-Lặt :

Sau khi đăng bài TỨ KHOÁI, chúng tôi có nhận được bài ĐẠI TỨ KHOÁI sau đây của a/h Hoàng-Đình-Khôi gởi tới để bổ-túc câu chuyện Lượm Lặt cho vui.

      Thất niên Đại hạn phùng cam vũ (nghĩa là bảy năm bị hạn hán, mới gặp mưa)
      Thiên lý tha hương ngộ cố tri (nghĩa là xa quê hương ngàn dặm, gặp được bạn cũ)
      Tu-sĩ động phòng hoa chúc dạ (nghĩa là ông Thầy Tu mà có được đêm động phòng )
      Tảo niên kim bảng quái danh thời (nghĩa là còn trẻ mà tên được treo bảng vàng )

Trần Sĩ Huân.